Chủ đề của AIE301m - Ứng dụng trí tuệ nhân tạo cho giao dịch

AIE301m - Phần 7: Giao dịch cặp và kiểm thử ngược

Kiểm thử ngược chỉ đáng tin khi tránh được vài cái bẫy quen thuộc: dùng dữ liệu tương lai chưa có tại thời điểm ra quyết định, bỏ sót các mã đã huỷ niêm yết, và thử quá nhiều bộ tham số tới khi một bộ trông đẹp chỉ nhờ may mắn; kiểm định trượt theo thời gian và giữ riêng một giai đoạn chưa từng dùng giúp lộ ra quá khớp. Cặp tài sản được chọn theo quan hệ kinh tế rồi kiểm tra đồng tích hợp, tức khoảng chênh giữa hai chuỗi có xu hướng quay về mức cân bằng, không chỉ là tương quan cao. Tỉ lệ phòng hộ giữa hai tài sản đổi theo thời gian nên bộ lọc Kalman ước lượng lại nó sau mỗi quan sát mới. Quy tắc vào lệnh dựa trên điểm z của khoảng chênh: vượt ngưỡng trên thì bán tài sản đắt, mua tài sản rẻ, rồi đóng vị thế khi khoảng chênh về gần trung bình.

Xem danh sách câu hỏi8 câu hỏi100% có giải thích

Bắt đầu bằng Chế độ học nếu bạn muốn đáp án và giải thích hiện ngay sau mỗi câu — không bấm giờ, dừng lúc nào cũng được. Chọn Thi thử khi muốn biết mình đang ở đâu: có bấm giờ, chấm điểm ở cuối, và giải thích chỉ mở sau khi nộp.

Học ngân hàng câu hỏi của chủ đề

Luyện tập theo chủ đề này

8Câu hỏi hiện có

Câu hỏi của chủ đề

8/8 câuHết danh sách
A2,856 shares of Salesforce (CRM)
B2,484 shares of Salesforce (CRM)
C3,030 shares of Salesforce (CRM)
Lời giải
Đáp án đúng: "2,856 shares of Salesforce (CRM)". Vốn phân bổ cho chiến lược là 5% của 10.000.000 USD, tức 500.000 USD dồn hết vào chân mua ORCL, được 500.000/50 = 10.000 cổ phiếu. Phòng hộ beta (beta hedged) nghĩa là mức phơi nhiễm theo beta của hai chân bằng nhau: 500.000 × 1,15 = 575.000 USD tương đương thị trường, nên giá trị bán khống CRM cần là 575.000/1,22 ≈ 471.311 USD, chia giá 165 được khoảng 2.856,4, làm tròn xuống 2.856 cổ phiếu. "3,030 shares of Salesforce (CRM)" là kết quả của 500.000/165, tức cặp trung tính theo đô la (dollar neutral), bỏ qua chênh lệch beta. "2,484 shares of Salesforce (CRM)" ứng với 500.000/1,22/165, chỉ chia cho beta của CRM mà quên nhân beta 1,15 của ORCL, nên chân bán khống bị thiếu và danh mục vẫn còn phơi nhiễm thị trường dương.
Mở trang câu hỏi này →
AYou double your expected return
BYou can lower your exposure to industry and sector risk
CYou exposure to market risk is lower
Lời giải
Đáp án đúng gồm hai ý: "You can lower your exposure to industry and sector risk" và "You exposure to market risk is lower". Một cặp long-short mua một cổ phiếu và bán khống một cổ phiếu khác, thường cùng ngành và có hệ số beta gần nhau. Khi cả thị trường hay cả ngành cùng lên hoặc cùng xuống, lãi ở chân này bù lỗ ở chân kia, nên phần biến động chung bị triệt tiêu phần lớn: rủi ro thị trường giảm, và vì hai mã cùng ngành nên rủi ro ngành, lĩnh vực cũng giảm. Lợi nhuận còn lại đến từ chênh lệch hiệu suất tương đối giữa hai cổ phiếu, đúng thứ người giao dịch cặp muốn đặt cược. "You double your expected return" sai vì lợi suất của cặp là hiệu số giữa hai chân chứ không phải tổng; phần lớn chuyển động chung bị loại bỏ nên lợi suất kỳ vọng thường nhỏ hơn so với giữ một cổ phiếu, đổi lại là rủi ro thấp hơn, và chỉ đòn bẩy mới phóng đại được nó.
Mở trang câu hỏi này →
AThe long side has a larger positive return than the short side.
BThe long side has a smaller positive return than the short side
CThe long side has a smaller negative return than the short side.
DThe long side has a larger negative return than the short side.
Lời giải
Đáp án đúng gồm hai ý: "The long side has a larger positive return than the short side." và "The long side has a smaller negative return than the short side.". Với cặp mua một chân, bán khống chân kia cùng giá trị, lợi suất của cặp xấp xỉ bằng lợi suất chân mua trừ lợi suất chân bán, nên cặp có lãi khi chân mua làm tốt hơn chân bán. Ví dụ chân mua tăng 5% còn chân bán tăng 2% thì cặp lãi khoảng 3%; khi cả thị trường giảm, chân mua giảm 2% còn chân bán giảm 5% thì cặp vẫn lãi khoảng 3% vì khoản lãi từ bán khống bù hơn khoản lỗ của chân mua. "The long side has a smaller positive return than the short side" làm cặp lỗ, ví dụ mua tăng 2%, bán tăng 5% thì lỗ khoảng 3%. "The long side has a larger negative return than the short side." cũng lỗ, ví dụ mua giảm 5%, bán chỉ giảm 2% thì khoản lỗ chân mua lớn hơn khoản lãi bán khống.
Mở trang câu hỏi này →
AWe wanted to create a long-short pair of to stocks in the same industry sub-sector and equal loadings in PC1 indicate that the stocks are in the same sub-sector.
BWe wanted to create a long-short pair of to stocks with the same price/earnings ratio which is one way to measure the Value factor.
CWe wanted to create a long-short pair of stocks that were hedged in their main exposure to variations in the overall returns of the XLK portfolio of stocks.
Lời giải
Đáp án đúng: "We wanted to create a long-short pair of stocks that were hedged in their main exposure to variations in the overall returns of the XLK portfolio of stocks.". Trong phân tích thành phần chính (PCA) trên lợi suất, thành phần đầu tiên PC1 giải thích hơn một nửa biến động và mọi cổ phiếu đều có tải dương, nên PC1 chính là yếu tố chung kéo cả rổ XLK cùng lên xuống. Tải (loading) là độ nhạy của từng cổ phiếu với yếu tố đó; hai mã có tải PC1 bằng nhau thì khi mua một và bán khống một cùng giá trị, phơi nhiễm với PC1 triệt tiêu, lợi suất cặp chỉ còn phụ thuộc các thành phần sau và phần riêng của từng mã. Phương án "equal loadings in PC1 indicate that the stocks are in the same sub-sector" sai vì tải bằng nhau chỉ nói độ nhạy với yếu tố chung giống nhau; hai mã khác phân ngành con vẫn có thể có tải như nhau, còn khác biệt phân ngành thường hiện ở các thành phần sau. Phương án "same price/earnings ratio which is one way to measure the Value factor" sai vì PCA dựa trên hiệp phương sai lợi suất, không dùng tỉ số P/E, nên tải PC1 không đo yếu tố giá trị.
Mở trang câu hỏi này →
A8
B9
C10
D12
Lời giải
Đáp án đúng: "10". Chênh lệch giá (spread) trong giao dịch cặp (pairs trading) được định nghĩa là A − B, nên chỉ cần lấy giá cổ phiếu A trừ giá cổ phiếu B: 120 − 110 = 10 đô la. Nhà giao dịch theo dõi spread này, khi nó lệch xa mức trung bình lịch sử thì bán bên đắt, mua bên rẻ và chờ spread quay về. "8" thiếu 2 đô la so với phép trừ đúng. "9" lệch 1 đô la, có thể do tính nhầm. "12" lớn hơn hiệu thực tế 2 đô la và không ứng với phép tính nào trên hai mức giá đã cho.
Mở trang câu hỏi này →
APredicting future spread movements using historical financial data
BAutomatically replacing the stock exchange infrastructure
CCalculating brokerage tax reports
DDetermining market trading holidays
Lời giải
Đáp án đúng: "Predicting future spread movements using historical financial data". Giao dịch cặp (pair trading) mua một tài sản và bán khống tài sản có quan hệ chặt với nó, kiếm lời khi chênh lệch giá (spread) giữa hai bên quay về mức cân bằng; học máy được dùng để chọn cặp, ước lượng tỉ lệ phòng hộ và dự báo spread sẽ mở rộng hay thu hẹp dựa trên dữ liệu lịch sử, từ đó quyết định thời điểm vào và ra lệnh. "Automatically replacing the stock exchange infrastructure" sai vì hệ thống giao dịch cặp chỉ là người tham gia thị trường, chạy trên hạ tầng sàn có sẵn. "Calculating brokerage tax reports" là việc kế toán, hành chính, không liên quan đến tín hiệu giao dịch. "Determining market trading holidays" là lịch do sàn công bố, chỉ cần tra cứu chứ không cần mô hình học máy dự đoán.
Mở trang câu hỏi này →
AOverfitting
BMarket regime changes
CData leakage
DData compression
EBatch size splits
Lời giải
Đáp án đúng gồm ba ý: "Overfitting", "Market regime changes" và "Data leakage". Quá khớp (overfitting) xảy ra khi mô hình học cả nhiễu của dữ liệu lịch sử, nên backtest đẹp nhưng giao dịch thật thua lỗ. Thay đổi chế độ thị trường (market regime changes), như chuyển từ xu hướng tăng ổn định sang biến động mạnh, làm quan hệ mà mô hình đã học không còn đúng. Rò rỉ dữ liệu (data leakage) là khi thông tin tương lai lọt vào khâu huấn luyện, ví dụ chuẩn hoá trên toàn bộ dữ liệu hay dùng giá đóng cửa để quyết định lệnh trong cùng phiên, khiến hiệu năng kiểm thử bị thổi phồng. "Data compression" là kỹ thuật lưu trữ, truyền dữ liệu cho gọn, không phải rủi ro của chiến lược giao dịch. "Batch size splits" là cách chia lô khi huấn luyện, một siêu tham số ảnh hưởng tốc độ và độ ổn định hội tụ, không phải rủi ro cần cân nhắc khi triển khai chiến lược.
Mở trang câu hỏi này →
AThe tendency of prices to move in one direction
BThe assumption that prices will return to their historical average
CThe process of diversifying investments
DThe analysis of market volatility
Lời giải
Đáp án đúng: "The assumption that prices will return to their historical average". Hồi quy về trung bình (mean reversion) là giả định giá, hay chênh lệch giữa hai tài sản liên quan, lệch xa mức trung bình lịch sử thì có xu hướng quay trở lại; chênh lệch giá thống kê dựa vào đó để bán phía đang đắt, mua phía đang rẻ khi độ lệch, thường đo bằng z-score, vượt ngưỡng, rồi đóng vị thế khi chênh lệch về lại trung bình. "The tendency of prices to move in one direction" mô tả quán tính hay xu hướng (momentum), chính là điều ngược lại với hồi quy về trung bình. "The process of diversifying investments" là đa dạng hoá, nhằm giảm rủi ro chứ không nói về hành vi của giá. "The analysis of market volatility" là phân tích độ biến động, đo độ lớn dao động chứ không khẳng định giá sẽ quay về đâu.
Mở trang câu hỏi này →

Đề có câu hỏi của chủ đề này

3 đề chứa ít nhất một câu thuộc chủ đề — mở đề để làm cả bộ, không chỉ từng câu.