HCM202DễKỳ 9Đại cương Cập nhật 18 giờ trước

HCM202 - Tư tưởng Hồ Chí Minh

HCM202 - Tư tưởng Hồ Chí Minh là môn thuộc khối lý luận chính trị trong chương trình đại cương bậc cử nhân của Đại học FPT. Môn trả lời một câu hỏi xuyên suốt: hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam gồm những gì, hình thành từ đâu, và được diễn đạt bằng những công thức nào. Đặc thù của môn là phần lớn nội dung nằm ở các mệnh đề có cách diễn đạt cố định, nên học đúng chữ quan trọng không kém hiểu đúng ý. Nội dung đi theo sáu khối. Khối mở đầu xác lập công cụ làm việc: khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, cùng các nguyên tắc phương pháp luận như thống nhất tính đảng với tính khoa học, thống nhất lý luận với thực tiễn, quan điểm lịch sử - cụ thể, quan điểm kế thừa và phát triển. Khối thứ hai dựng lại cơ sở hình thành: bối cảnh Việt Nam mất độc lập và các phong trào yêu nước bế tắc về đường lối, truyền thống dân tộc, tinh hoa văn hoá phương Đông và phương Tây, chủ nghĩa Mác-Lênin với tư cách nguồn gốc lý luận quyết định nhất, nhân tố chủ quan của chính Hồ Chí Minh, cùng các mốc phân kỳ từ 1890 đến 1969. Khối thứ ba là trục tư tưởng: vấn đề dân tộc thuộc địa, cách mạng giải phóng dân tộc, quan niệm về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ ở một nước nông nghiệp lạc hậu. Khối thứ tư bàn về Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân: quy luật ra đời, bản chất, Đảng cầm quyền, nhà nước hợp hiến hợp pháp, công tác cán bộ và phòng chống tiêu cực. Khối thứ năm là đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế: chủ thể, nền tảng, nguyên tắc, Mặt trận dân tộc thống nhất. Khối cuối bàn về văn hoá, đạo đức và con người: tính chất của nền văn hoá mới, các chuẩn mực đạo đức cách mạng, nguyên tắc tu dưỡng và chiến lược trồng người. Lợi ích: người học phân biệt được những cặp khái niệm rất dễ nhầm khi làm bài trắc nghiệm, như độc lập dân tộc với giải phóng dân tộc, nhà nước của dân với do dân và vì dân, chiến lược với sách lược, mâu thuẫn cơ bản với mâu thuẫn chủ yếu, chủ thể của khối đại đoàn kết với nền tảng của khối ấy. Người học cũng quen dần dạng câu hỏi chọn phương án đúng nhất, nơi bốn lựa chọn chỉ lệch nhau một cụm từ, và rèn thói quen đọc kỹ những câu dẫn phủ định kiểu nội dung nào không đúng. Mỗi câu trong ngân hàng đều kèm giải thích nêu rõ đáp án đúng dựa vào đâu và các phương án còn lại bị đổi mất chữ nào.

422Câu hỏi
11Bộ đề
6Chủ đề
5,02 đánh giá

Câu hỏi của môn

344/422 câuCòn 78
AĐánh đổ ách áp bức, thống trị của đế quốc, thực dân giành độc lập dân tộc
BGiành độc lập dân tộc, hình thành nhà nước dân tộc độc lập
CTự do lựa chọn con đường phát triển của dân tộc phù hợp với xu thế phát triển của thời đại
DGiành ruộng đất về cho nông dân, đảm bảo quyền thống trị của công nông trong chính quyền
Lời giải
Đáp án đúng: “Giành ruộng đất về cho nông dân, đảm bảo quyền thống trị của công nông trong chính quyền”. Câu dẫn hỏi điều KHÔNG phải ý nghĩa của giải phóng dân tộc. Chia ruộng đất và xác lập quyền thống trị của công nông là nội dung của cách mạng ruộng đất và cách mạng giai cấp, thuộc chặng sau, không phải cái mà bản thân việc giải phóng dân tộc đem lại. Ba phương án còn lại đều đúng: đánh đổ ách áp bức của đế quốc thực dân, lập nên nhà nước dân tộc độc lập, và giành quyền tự do lựa chọn con đường phát triển phù hợp với xu thế thời đại.
Mở trang câu hỏi này →
ACác dân tộc thuộc địa
BGiai cấp công nhân
CGiai cấp nông dân
DCác dân tộc thuộc địa, giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới
Lời giải
Đáp án đúng: “Các dân tộc thuộc địa, giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới”. Câu hỏi yêu cầu phương án ĐÚNG NHẤT, nên phải chọn vế bao quát. Hồ Chí Minh ví chủ nghĩa thực dân như con đỉa hai vòi: một vòi hút máu nhân dân thuộc địa, một vòi hút máu giai cấp vô sản ở chính quốc — muốn giết nó phải cắt cả hai vòi cùng lúc. Chính cách nhìn ấy làm cho cuộc đấu tranh ở thuộc địa và ở chính quốc trở thành hai cánh của một phong trào. Ba phương án kia đều đúng một phần nhưng chỉ nêu một nạn nhân, nên bỏ mất quan hệ hai chiều này.
Mở trang câu hỏi này →
327Theo Hồ Chí Minh, mục đích của chủ nghĩa xã hội là gì?4 lựa chọnDễ85% trả lời đúng
AXây dựng nền kinh tế hiện đại, có sức tăng trưởng cao.
BKhông ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
CPhát triển mạnh mẽ khoa học - kỹ thuật
DBảo đảm quyền làm chủ của nhân dân lao động
Lời giải
Đáp án đúng: “Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”. Hồ Chí Minh quy mục đích của chủ nghĩa xã hội về đúng con người: làm sao cho dân có ăn, có mặc, có chỗ ở, được học hành — chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng và ai nấy đều có đời sống ấm no, hạnh phúc. Kinh tế hiện đại, khoa học - kỹ thuật phát triển chỉ là phương tiện để đạt mục đích ấy. “Bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân lao động” là một đặc trưng của chế độ, cũng là điều kiện, chứ không phải mục đích cuối cùng.
Mở trang câu hỏi này →
328Con người xã hội chủ nghĩa theo Hồ Chí Minh đó là:4 lựa chọnDễ91% trả lời đúng
A"Có tư tưởng và tác phong xã hội chủ nghĩa"
B"Những người nằm trong xã hội chủ nghĩa"
C"Có ý thức xây dựng đất nước"
D"Chăm lao động"
Lời giải
Đáp án đúng: “Có tư tưởng và tác phong xã hội chủ nghĩa”. Hồ Chí Minh nhấn mạnh muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì trước hết cần có con người xã hội chủ nghĩa, và con người ấy được nhận ra ở hai mặt đi liền nhau: tư tưởng, tức nhận thức và động cơ; tác phong, tức cách làm việc và lối sống hằng ngày. “Những người nằm trong xã hội chủ nghĩa” chỉ là chuyện ở trong chế độ nào, không nói gì về phẩm chất. “Có ý thức xây dựng đất nước” và “chăm lao động” mới là từng biểu hiện riêng lẻ, chưa bao được cả hai mặt tư tưởng và tác phong.
Mở trang câu hỏi này →
329Theo Hồ Chí Minh, hòa bình là phương pháp cách mạng:3 lựa chọnDễ83% trả lời đúng
AKhông hiệu quả
BRất nhân văn
CKhông cần thiết
Lời giải
Đáp án đúng: “Rất nhân văn”. Hồ Chí Minh luôn tận dụng mọi khả năng giải quyết xung đột bằng thương lượng, hoà hoãn để tránh đổ máu cho nhân dân — tư tưởng nhân đạo ấy xuyên suốt cả những năm 1945 - 1946 lẫn về sau. Bạo lực cách mạng chỉ được dùng khi không còn con đường nào khác, và cũng nhằm mục đích hoà bình. Hai phương án còn lại đều phủ nhận hoà bình: nói nó không hiệu quả hoặc không cần thiết đều trái hẳn với quan điểm của Người.
Mở trang câu hỏi này →
330Phạm vi vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh là đối tượng nào?4 lựa chọnDễ75% trả lời đúng
AĐối với cách mạng Việt Nam
BĐối với các nước tư sản
CĐối với mọi quốc gia, dân tộc
DĐối với cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam
Lời giải
Đáp án đúng: "Đối với cách mạng Việt Nam". Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm được hình thành từ thực tiễn Việt Nam và để giải quyết những vấn đề của chính cách mạng Việt Nam, cho nên phạm vi vận dụng của nó trải suốt cả tiến trình cách mạng nước ta — từ giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội cho tới công cuộc đổi mới hôm nay. "Đối với cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam" chỉ đúng một chặng. Giải phóng dân tộc mới là nửa đầu của tư tưởng Hồ Chí Minh; nửa sau là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, nên bó phạm vi lại như vậy là cắt mất phần lớn di sản. "Đối với mọi quốc gia, dân tộc" thì ngược lại, nới quá rộng. Tư tưởng ấy có giá trị tham khảo quốc tế, nhưng phạm vi VẬN DỤNG trực tiếp vẫn là Việt Nam; áp nguyên xi sang nước khác là trái chính cách Hồ Chí Minh dặn phải xuất phát từ điều kiện cụ thể. "Đối với các nước tư sản" sai hoàn toàn về đối tượng: tư tưởng Hồ Chí Minh hướng vào con đường cách mạng vô sản ở một nước thuộc địa, không phải đường lối dành cho các nước tư bản phát triển.
Mở trang câu hỏi này →
AĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
BĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
CĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
DĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Lời giải
Đáp án đúng: "Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII". Đại hội VII (tháng 6 năm 1991) là nơi lần đầu tiên Đảng ghi vào văn kiện mệnh đề lấy chủ nghĩa Mác - Lênin VÀ tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động — mốc chính thức đưa tư tưởng Hồ Chí Minh thành một bộ phận của nền tảng tư tưởng của Đảng. "Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI" là Đại hội mở đầu công cuộc đổi mới (1986), nêu bài học "lấy dân làm gốc" nhưng chưa đưa ra mệnh đề nền tảng tư tưởng nói trên. "Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX" (2001) có bước tiến riêng là định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng đó là làm rõ thêm một mệnh đề đã có từ trước, không phải lần đầu nêu ra. "Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI" (2011) thông qua Cương lĩnh bổ sung, phát triển; càng không thể là lần đầu.
Mở trang câu hỏi này →
ABản án chế độ thực dân Pháp
BLênin và Phương Đông
CCon Rồng tre
DĐường Kách Mệnh
Lời giải
Đáp án đúng: "Đường Kách Mệnh". Đây chính là tập hợp các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại những lớp huấn luyện cán bộ ở Quảng Châu, được Bộ Tuyên truyền của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức in năm 1927 — cuốn sách trang bị lý luận cách mạng đầu tiên cho lớp cán bộ Việt Nam. "Bản án chế độ thực dân Pháp" là một công trình tố cáo tội ác thực dân, viết và xuất bản ở Pháp năm 1925, không phải tập bài giảng huấn luyện cán bộ. "Lênin và Phương Đông" là một bài viết ngắn, không phải giáo trình huấn luyện. "Con Rồng tre" là một vở kịch châm biếm vua Khải Định, thuộc mảng sáng tác văn học báo chí, hoàn toàn khác thể loại.
Mở trang câu hỏi này →
APhan Châu Trinh
BPhan Bội Châu
CHoàng Hoa Thám
DHồ Chí Minh
Lời giải
Đáp án đúng: "Phan Châu Trinh". Phan Châu Trinh chủ trương cải cách ôn hoà: dựa vào người Pháp để mưu tiến bộ, nâng dân trí, chấn hưng khí phách và làm cho dân no đủ, rồi từ đó mới tính chuyện tự chủ. "Phan Bội Châu" đi hướng ngược lại hẳn: bạo động vũ trang, cầu viện bên ngoài qua phong trào Đông Du — Hồ Chí Minh ví cách làm ấy như "đuổi hổ cửa trước, rước beo cửa sau". "Hoàng Hoa Thám" lãnh đạo khởi nghĩa nông dân Yên Thế, nặng cốt cách phong kiến, không có cương lĩnh khai dân trí. "Hồ Chí Minh" thì phê phán cả hai con đường trên và chọn con đường cách mạng vô sản, nên càng không phải tác giả của chủ trương dựa vào Pháp.
Mở trang câu hỏi này →
ADựa vào sự thắng lợi của cách mạng ở các nước thuộc địa khác
BDựa vào thắng lợi của cách mạng vô sản ở chính quốc
CTiến hành chủ động và sáng tạo
DTiến hành sau khi cách mạng vô sản ở chính quốc giành thắng lợi
Lời giải
Đáp án đúng: "Tiến hành chủ động và sáng tạo". Đây là luận điểm sáng tạo nổi bật nhất của Hồ Chí Minh: cách mạng thuộc địa không lệ thuộc vào cách mạng chính quốc mà có thể nổ ra và thắng lợi trước, vì thuộc địa là nơi nuôi sống chủ nghĩa đế quốc, chặt đứt ở đó thì con rắn chết. "Dựa vào thắng lợi của cách mạng vô sản ở chính quốc" là quan điểm phổ biến trong Quốc tế Cộng sản đương thời, ví cách mạng thuộc địa như "cái cánh" của cách mạng vô sản — chính quan điểm Hồ Chí Minh phản bác. "Tiến hành sau khi cách mạng vô sản ở chính quốc giành thắng lợi" là cách diễn đạt khác của cùng quan điểm lệ thuộc ấy, đặt dân tộc thuộc địa vào thế ngồi chờ. "Dựa vào sự thắng lợi của cách mạng ở các nước thuộc địa khác" cũng là tư tưởng ỷ lại, chỉ đổi chỗ dựa chứ không đổi bản chất thụ động.
Mở trang câu hỏi này →
AVấn đề tự do dân chủ
BVấn đề độc lập dân tộc
CVấn đề ruộng đất
Lời giải
Đáp án đúng: "Vấn đề độc lập dân tộc". Ở một xứ thuộc địa, mâu thuẫn trùm lên tất cả là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa thực dân, nên vấn đề cốt lõi phải giải quyết trước hết là giành lại độc lập cho dân tộc. "Vấn đề ruộng đất" là mâu thuẫn giai cấp cơ bản trong lòng xã hội nông nghiệp, rất quan trọng nhưng ở thuộc địa phải đặt sau và phục vụ nhiệm vụ giải phóng dân tộc — Hồ Chí Minh chủ trương giải quyết từng bước để không làm phân hoá lực lượng chống đế quốc. "Vấn đề tự do dân chủ" là quyền của người dân trong một quốc gia; khi nước còn mất thì không thể có tự do dân chủ thật sự, nên nó là hệ quả chứ không phải cái cốt lõi phải giành trước.
Mở trang câu hỏi này →
AQuyền thiêng liêng của tất cả các dân tộc
BQuyền thiêng liêng và bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc
CQuyền lợi của tất cả các quốc gia
DĐặc quyền của mỗi một dân tộc
Lời giải
Đáp án đúng: "Quyền thiêng liêng và bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc". Hồ Chí Minh khẳng định độc lập tự do vừa thiêng liêng vừa bất khả xâm phạm — hai vế đi liền nhau: thiêng liêng nói giá trị, bất khả xâm phạm nói rằng không ai được phép động đến, và dân tộc có quyền dùng mọi sức lực để giữ. "Quyền thiêng liêng của tất cả các dân tộc" đúng nhưng thiếu hẳn vế bất khả xâm phạm, làm mất đi ý nghĩa pháp lý và tinh thần quyết giữ bằng mọi giá. "Quyền lợi của tất cả các quốc gia" hạ thấp một quyền thiêng liêng xuống thành một thứ quyền lợi có thể mặc cả, thương lượng. "Đặc quyền của mỗi một dân tộc" sai về bản chất: đặc quyền hàm ý chỉ một số được hưởng, trong khi Hồ Chí Minh nói đó là quyền của TẤT CẢ các dân tộc, kể cả dân tộc nhỏ yếu.
Mở trang câu hỏi này →
AThực hiện cách mạng giải phóng dân tộc
BThỏa hiệp với mẫu quốc trao trả độc lập
CDựa vào các tổ chức quốc tế kêu gọi trao trả độc lập
DThành lập nhà nước của chính mình
Lời giải
Đáp án đúng: "Thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc". Hồ Chí Minh rút ra từ chính thất bại của các bậc tiền bối: độc lập chỉ có thể giành lại bằng con đường cách mạng, bằng sức mạnh của toàn dân tộc chứ không phải bằng xin xỏ hay nhờ vả. "Thỏa hiệp với mẫu quốc trao trả độc lập" chính là con đường cải lương mà bản Yêu sách gửi Vécxây đã chứng minh là vô vọng — đế quốc không bao giờ tự nguyện trao trả. "Dựa vào các tổ chức quốc tế kêu gọi trao trả độc lập" cũng là hình thức ỷ lại bên ngoài; các tổ chức quốc tế khi ấy do chính các nước đế quốc chi phối. "Thành lập nhà nước của chính mình" là KẾT QUẢ sau khi cách mạng thành công, không phải phương thức để giành độc lập; chưa đánh đổ ách thống trị thì không thể dựng nhà nước.
Mở trang câu hỏi này →
AKết hợp giáo dục pháp luật và đạo đức, hình thành pháp quyền nhân nghĩa
BKết hợp giáo dục pháp luật và nhân cách, hình thành pháp quyền nhân nghĩa
CKết hợp giáo dục pháp luật và nghề nghiệp, hình thành pháp quyền nhân nghĩa
DKết hợp giáo dục pháp luật và văn hóa; hình thành pháp quyền nhân nghĩa
Lời giải
Đáp án đúng: "Kết hợp giáo dục pháp luật và đạo đức, hình thành pháp quyền nhân nghĩa". Hồ Chí Minh không tách pháp luật khỏi đạo đức: nhà nước phải quản lý bằng luật nhưng người thi hành luật phải có đạo đức, và chính sự kết hợp ấy tạo nên pháp quyền nhân nghĩa — pháp luật vì con người chứ không phải để trừng trị con người. Phương án ghép pháp luật với "nhân cách" thu hẹp đạo đức xã hội thành phẩm chất riêng lẻ của từng người, mất đi chiều chuẩn mực chung. Phương án ghép pháp luật với "nghề nghiệp" lạc hẳn sang đào tạo chuyên môn, không liên quan tới nội hàm nhân nghĩa. Phương án ghép pháp luật với "văn hóa" nghe rộng nhưng chính vì rộng mà mờ: cái Hồ Chí Minh đặt cạnh pháp luật luôn là đạo đức.
Mở trang câu hỏi này →
AKhông khác biệt với chủ nghĩa Mác - Lenin
BBổ sung yếu tố phong trào yêu nước
CKhông có yếu tố phong trào công nhân
DBổ sung thêm học thuyết cách mạng của chủ nghĩa Mác
Lời giải
Đáp án đúng: "Bổ sung yếu tố phong trào yêu nước". Chủ nghĩa Mác - Lênin nêu quy luật ra đời của đảng cộng sản là sự kết hợp chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân. Hồ Chí Minh bổ sung yếu tố thứ ba phù hợp với một nước thuộc địa: phong trào yêu nước — vì ở Việt Nam giai cấp công nhân còn nhỏ bé, còn lòng yêu nước thì là mạch nguồn ngàn đời. "Không khác biệt với chủ nghĩa Mác - Lenin" phủ nhận chính điểm sáng tạo đang được hỏi. "Không có yếu tố phong trào công nhân" hiểu sai chiều: Hồ Chí Minh THÊM chứ không BỎ; phong trào công nhân vẫn là một trong ba yếu tố. "Bổ sung thêm học thuyết cách mạng của chủ nghĩa Mác" là nói ngược, vì học thuyết Mác vốn đã là yếu tố thứ nhất trong công thức gốc.
Mở trang câu hỏi này →
AMột nhà nước hợp hiến
BMột nhà nước thống nhất, có chủ quyền quốc gia
CMột nhà nước của dân, do dân, vì dân
DMột nhà nước không có tiêu cực, không có đặc quyền đặc lợi
Lời giải
Đáp án đúng: "Một nhà nước hợp hiến". Hiệu lực PHÁP LÝ của nhà nước bắt nguồn từ tính hợp hiến, hợp pháp: phải do nhân dân bầu ra qua tổng tuyển cử và hoạt động theo hiến pháp. Vì vậy ngay sau ngày độc lập, Hồ Chí Minh đặt việc tổng tuyển cử và xây dựng hiến pháp lên hàng việc cấp bách. "Một nhà nước của dân, do dân, vì dân" là bản chất chính trị của nhà nước kiểu mới, trả lời câu hỏi nhà nước ấy thuộc về ai — không phải điều kiện làm nên hiệu lực pháp lý. "Một nhà nước thống nhất, có chủ quyền quốc gia" nói về tư cách quốc gia trong quan hệ quốc tế, một bình diện khác. "Một nhà nước không có tiêu cực, không có đặc quyền đặc lợi" thuộc yêu cầu xây dựng nhà nước trong sạch vững mạnh, là phẩm chất phải giữ chứ không phải nền tảng pháp lý.
Mở trang câu hỏi này →
ABạn bè
BBầu bạn
CĐồng minh
DLiên minh
Lời giải
Đáp án đúng: "Bầu bạn". Nguyên văn trong Đường Kách mệnh dùng chữ "bầu bạn": công nông là gốc cách mạng, còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ là bầu bạn của cách mạng. Chữ này vừa thân mật vừa phân biệt rõ với chữ "gốc". "Bạn bè" nghĩa gần nhưng là từ hiện đại, không phải chữ trong văn bản. "Đồng minh" là thuật ngữ chính trị chỉ quan hệ liên kết có tính toán lợi ích, không hợp với văn phong mộc mạc của tác phẩm. "Liên minh" lại càng sai vì liên minh trong cách mạng Việt Nam là để chỉ khối công - nông - trí, tức là phần nòng cốt, trong khi các tầng lớp được nêu ở đây nằm ngoài nòng cốt ấy.
Mở trang câu hỏi này →
ALý luận về Đảng Cộng sản cầm quyền
BTư duy của Đảng Cộng sản
CĐường lối của Đảng Cộng sản
DĐội ngũ lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Lời giải
Đáp án đúng: "Lý luận về Đảng Cộng sản cầm quyền". Hồ Chí Minh là người sớm đặt vấn đề Đảng sau khi giành chính quyền thì phải làm gì, phải chống những nguy cơ nào — quan liêu, xa dân, đặc quyền đặc lợi — và khẳng định Đảng cầm quyền nhưng dân vẫn là chủ. Đây là đóng góp lý luận đặc sắc của Người. "Đường lối của Đảng Cộng sản" là công việc thường xuyên của bất kỳ đảng nào, không phải một luận điểm sáng tạo. "Đội ngũ lãnh đạo của Đảng Cộng sản" là vấn đề công tác cán bộ, nằm trong xây dựng Đảng nói chung. "Tư duy của Đảng Cộng sản" là cách nói chung chung, không phải một phạm trù lý luận cụ thể.
Mở trang câu hỏi này →
A1.vạn 2.trăm
B1.mười 2.trăm
C1.nghìn 2.triệu
D1.triệu 2.nghìn
Lời giải
Đáp án đúng: "1.vạn 2.trăm". Câu ca Hồ Chí Minh thường nhắc là: dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong — và Người cũng dùng biến thể "dễ vạn lần". Trong bốn phương án ở đây chỉ có cặp vạn - trăm giữ đúng logic: vế dễ phải mang số lớn hơn vế khó thì mới bật lên ý nghĩa không có dân thì việc dễ đến mấy cũng hỏng. Cặp "mười - trăm" đảo ngược quan hệ: khó trăm lần mà dễ chỉ mười lần thì câu mất hẳn sức tương phản. Cặp "nghìn - triệu" cũng đặt vế khó lớn hơn vế dễ, hỏng cùng một lý do. Cặp "triệu - nghìn" tuy giữ đúng chiều lớn - nhỏ nhưng không phải chữ trong câu ca.
Mở trang câu hỏi này →
AToàn dân
BToàn quân
CToàn Đảng
DToàn giai cấp
Lời giải
Đáp án đúng: "Toàn Đảng". Hồ Chí Minh dạy muốn đoàn kết toàn dân thì trước hết Đảng phải đoàn kết — đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, Người dặn phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. "Toàn dân" là ĐÍCH đến của đại đoàn kết, không phải nơi bắt đầu; Đảng chia rẽ thì không thể quy tụ được dân. "Toàn quân" chỉ là một bộ phận, dù quan trọng. "Toàn giai cấp" thu hẹp phạm vi vào một giai cấp, trái với tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc.
Mở trang câu hỏi này →