Tất cả câu hỏi

Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm có giải thích chi tiết.

3.760/20.114 câuCòn 16.354
ATo reduce implementation costs
BTo identify overlapping countermeasures
CTo ensure compliance with regulatory requirements
DTo prioritize countermeasures
Lời giải
Đáp án đúng: "To identify overlapping countermeasures". Sau khi lập danh sách cặp mối đe doạ/điểm yếu (threat/vulnerability pair), người phân tích ghép từng biện pháp đối phó (countermeasure) vào từng cặp; bảng ghép cho thấy một biện pháp phủ được nhiều cặp, hoặc nhiều biện pháp cùng chồng lên một cặp, từ đó phát hiện chồng chéo để gộp hay bỏ bớt. Cần nói thẳng: "To prioritize countermeasures" là phương án gây phân vân nhất, vì kết quả ghép có thể được dùng về sau khi xếp thứ tự; nhưng việc ưu tiên biện pháp thường dựa vào ma trận khả năng - tác động hay phân tích chi phí - lợi ích, nên đó không phải mục đích trực tiếp của phép ghép. "To reduce implementation costs" có thể là hệ quả khi bỏ bớt biện pháp trùng, chứ không phải mục đích của bước ghép. "To ensure compliance with regulatory requirements" thuộc việc đối chiếu với luật và chuẩn, không phải với từng cặp mối đe doạ/điểm yếu.
Mở trang câu hỏi này →
AEliminating the risks
BEliminating the vulnerabilities
CControlling the ability of threat and vulnerability pairs
DAll of them
Lời giải
Đáp án đúng: "Controlling the ability of threat and vulnerability pairs". Rủi ro chỉ thành hiện thực khi một mối đe doạ (threat) gặp đúng điểm yếu (vulnerability) mà nó khai thác được, nên ngoài việc quản lý riêng từng bên, cách làm hiệu quả là kiểm soát khả năng cặp đe doạ – điểm yếu ấy kết hợp với nhau, tức giảm xác suất mối đe doạ chạm tới điểm yếu tương ứng. "Eliminating the risks" sai vì trong thực tế không thể đưa rủi ro về 0, mục tiêu của quản trị rủi ro là hạ rủi ro xuống mức tổ chức chấp nhận được. "Eliminating the vulnerabilities" cũng phi thực tế vì hệ thống luôn phát sinh điểm yếu mới, hơn nữa câu dẫn đã nhắc việc quản lý điểm yếu nên đây không phải biện pháp bổ sung. "All of them" sai vì hai cách loại bỏ tuyệt đối kể trên không đạt được, nên không thể gộp tất cả là đúng.
Mở trang câu hỏi này →
AHost site
BCold site
CWarm site
DActive site
EPermanent site
FAlternate site
Lời giải
Đáp án đúng gồm ba ý: "Host site", "Cold site" và "Warm site". Alternate site (địa điểm dự phòng) là nơi tổ chức chuyển hoạt động tới khi cơ sở chính bị thảm hoạ, và ba loại kinh điển là hot site (site nóng, trang bị sẵn phần cứng, phần mềm, dữ liệu gần thời gian thực, chuyển sang trong vài giờ), warm site (site ấm, có hạ tầng và một phần thiết bị, cần thêm thời gian nạp dữ liệu) và cold site (site lạnh, chỉ có mặt bằng, điện, điều hoà, phải mang thiết bị tới). Cách viết "Host site" gần như chắc là lỗi in của Hot site, và chỉ khi hiểu đúng như vậy thì mới đủ bộ ba loại site dự phòng. "Active site" là cách gọi địa điểm đang vận hành chính (hoặc mô hình active-active), không phải một loại site dự phòng. "Permanent site" là cơ sở cố định của tổ chức, chính là thứ cần được dự phòng chứ không phải nơi dự phòng. "Alternate site" là tên chung của cả nhóm, nên không thể là một loại nằm trong chính nhóm đó.
Mở trang câu hỏi này →
AProcedural control
BTechnical control
CPhysical control
DAdministrative control
Lời giải
Đáp án đúng: "Technical control". Kiểm soát kỹ thuật (technical control) là biện pháp được hiện thực bằng phần mềm hoặc phần cứng, như tường lửa, mã hoá, hệ thống phát hiện xâm nhập hay cơ chế xác thực; nó tự động thực thi chính sách an toàn ngay bên trong hệ thống. "Procedural control" là kiểm soát thủ tục, tức các quy trình, hướng dẫn công việc mà con người phải tuân theo, không dựa vào phần mềm hay phần cứng. "Physical control" bảo vệ không gian vật lý như khoá cửa, camera, hàng rào, nhân viên bảo vệ, nên nhắm vào việc tiếp cận cơ sở chứ không phải công nghệ bảo vệ hệ thống. "Administrative control" là kiểm soát quản lý gồm chính sách, đào tạo, phân công trách nhiệm do ban lãnh đạo ban hành; nó định hướng hành vi con người chứ không phải một cơ chế phần mềm hay phần cứng.
Mở trang câu hỏi này →
3745What is CBC stand for?4 lựa chọn
ACipher block chaining
BCyclic Binary Code
CCode of Backchannel Conduct
DComplement Block Coding
Lời giải
Đáp án đúng: "Cipher block chaining". CBC là viết tắt của Cipher Block Chaining (chế độ mã khối móc xích), một chế độ hoạt động của mã khối: mỗi khối bản rõ được XOR với khối bản mã ngay trước rồi mới mã hoá, Ci = E(K, Pi XOR C(i−1)), còn khối đầu dùng vectơ khởi tạo IV. Nhờ móc xích, hai khối bản rõ giống nhau vẫn cho bản mã khác nhau, khắc phục điểm yếu lộ mẫu của ECB; đổi lại việc mã hoá phải tuần tự. "Cyclic Binary Code" là tên một loại mã nhị phân dùng trong mã sửa lỗi hay mã hoá vị trí, không phải chế độ mật mã. "Code of Backchannel Conduct" là cụm từ không có nghĩa trong mật mã học. "Complement Block Coding" cũng không phải tên chế độ mã khối nào.
Mở trang câu hỏi này →
ATrue
BFalse
Lời giải
Đáp án đúng: "True". Trong mã Feistel, mỗi vòng tính L_i = R_(i−1) và R_i = XOR(L_(i−1), F(R_(i−1), K_i)). Để đảo ngược, từ L_i và R_i ta có ngay R_(i−1) = L_i, rồi L_(i−1) = XOR(R_i, F(L_i, K_i)); ở cả hai chiều hàm F chỉ được tính xuôi trên một nửa đã biết, và XOR với cùng một giá trị hai lần thì triệt tiêu, nên F không cần khả nghịch. Vì vậy giải mã dùng đúng cấu trúc mã hoá với khoá con theo thứ tự ngược lại, và người thiết kế được tự do chọn F phi tuyến phức tạp như hàm F của DES dùng các hộp S nén 6 bit thành 4 bit. "False" sai vì tính khả nghịch của cả vòng đến từ cấu trúc XOR và hoán đổi hai nửa, không đến từ F.
Mở trang câu hỏi này →
ATransposition cipher
BSubstitution cipher
CAsymmetric cipher
DSymmetric cipher
Lời giải
Đáp án đúng: "Substitution cipher". Mã thay thế thay mỗi chữ cái (hoặc nhóm chữ) của bản rõ bằng một chữ cái hay ký hiệu khác theo khoá, vị trí các chữ giữ nguyên; ví dụ Caesar dịch mỗi chữ đi k vị trí, mã thế đơn bảng dùng một hoán vị bất kỳ của 26 chữ, Vigenère dùng nhiều bảng thế xen kẽ. "Transposition cipher" (mã chuyển vị) ngược lại giữ nguyên các chữ mà chỉ đổi chỗ chúng, như rail fence hay mật mã hoán vị, nên tần suất từng chữ không đổi. "Asymmetric cipher" phân loại theo cách dùng cặp khoá công khai và khoá riêng, như RSA, vốn làm việc trên số chứ không phải thay chữ. "Symmetric cipher" là nhóm rộng gồm mọi hệ dùng chung một khoá, chứa cả mã thay thế lẫn chuyển vị, nên không phải tên đúng cho hành vi thay chữ mà câu mô tả.
Mở trang câu hỏi này →
A5
B24
C32
D120
Lời giải
Đáp án đúng: "120". Mã đơn bảng (monoalphabetic cipher) ánh xạ mỗi ký hiệu bản rõ sang một ký hiệu bản mã sao cho không có hai ký hiệu nào trùng đích, tức mỗi khoá là một hoán vị của bảng chữ. Với 5 ký hiệu, ký hiệu đầu có 5 lựa chọn đích, ký hiệu thứ hai còn 4, rồi 3, 2, 1, nên số khoá là 5! = 5 × 4 × 3 × 2 × 1 = 120; với 26 chữ cái thì là 26!, cỡ 4 × 10^26. "5" chỉ là số khoá của mã dịch vòng trên 5 ký hiệu, nơi khoá là một độ dịch từ 0 tới 4. "24" là 4!, tức số hoán vị của chỉ 4 ký hiệu. "32" là 2^5, số tập con của 5 ký hiệu, không phải số cách gán một đổi một.
Mở trang câu hỏi này →
AStream cipher
BBlock cipher
CAsymmetric cipher
DSymmetric cipher
Lời giải
Đáp án đúng: "Block cipher". Cấu trúc Feistel chia khối đầu vào thành hai nửa trái phải, mỗi vòng thay nửa trái bằng nửa phải và nửa phải bằng XOR của nửa trái với F(nửa phải, khoá con); cấu trúc này dùng để xây mã khối, tiêu biểu là DES với khối 64 bit và 16 vòng. "Stream cipher" sinh dòng khoá rồi XOR từng bit hay byte, không chia khối thành hai nửa qua nhiều vòng. "Asymmetric cipher" như RSA dựa trên bài toán số học với cặp khoá, không dùng mạng Feistel. "Symmetric cipher" đúng là lớp chứa mã khối nhưng quá rộng, gồm cả mã dòng không dùng Feistel, nên chỗ trống cần đúng loại mã khối.
Mở trang câu hỏi này →
ASubBytes
BShiftRows
CMixColumns
DAddRoundKey
Lời giải
Đáp án đúng: "MixColumns". Mỗi vòng thông thường của AES gồm bốn bước: SubBytes thế từng byte qua hộp S, ShiftRows dịch vòng các hàng của ma trận trạng thái, MixColumns trộn từng cột bằng phép nhân ma trận trên GF(2^8), và AddRoundKey XOR trạng thái với khoá vòng. Vòng cuối cùng (vòng 10 với AES-128) bỏ MixColumns, vì ở vị trí cuối bước này không tăng an toàn mà chỉ thêm chi phí, và bỏ nó giúp mạch giải mã có cấu trúc đối xứng với mạch mã hoá. Câu hỏi tìm bước không có trong vòng cuối, nên các bước có mặt không được chọn: "SubBytes" vẫn có để giữ tính phi tuyến (confusion); "ShiftRows" vẫn có để khuếch tán byte giữa các cột; "AddRoundKey" vẫn có và còn bắt buộc, vì không có khoá vòng cuối thì kẻ tấn công tự đảo ngược được các bước không khoá phía trước.
Mở trang câu hỏi này →
ABlock size
BKey size
CNumber of rounds
DSubkey generation
ERound function
FAll the other choices
Lời giải
Đáp án đúng: "All the other choices". Khi thiết kế một mã Feistel phải chọn các tham số sau, mỗi cái đánh đổi giữa an toàn và tốc độ. "Block size": khối lớn hơn an toàn hơn nhưng chậm hơn, ví dụ DES dùng 64 bit. "Key size": khoá dài hơn chống vét cạn tốt hơn, DES dùng 56 bit, ngày nay cần ít nhất 128 bit. "Number of rounds": một vòng Feistel không đủ an toàn, nhiều vòng tăng độ hỗn loạn, DES dùng 16 vòng. "Subkey generation": thuật toán sinh khoá con cho từng vòng càng phức tạp thì phân tích càng khó. "Round function": hàm vòng F càng phi tuyến và phức tạp thì càng chống được phân tích vi sai và tuyến tính. Ngoài ra còn hai cân nhắc là mã hoá giải mã nhanh trên phần mềm và dễ phân tích. Cả năm thứ đều là tham số thiết kế, nên chọn phương án gộp.
Mở trang câu hỏi này →
AThe letter-pair/digram AX appeared the most in the ciphertext, so they must be TH. In other words, A is mapped from the letter T, and X is mapped from H.
BIf we replace the Caesar Cipher with a Monoalphabetic Cipher, then it becomes harder to crack by an attacker (who does not know the key).
CThe ordering between the Caesar and the Permutation does not matter within the product cipher, so we can decrypt it in any order.
DIf we another Caesar Cipher encryption in the product cipher (so that there are two Caesar Cipher operations and a Permutation Cipher operation), then it becomes harder to crack by an attacker (who does not know the key)
ELetter Z appeared the most in the ciphertext, so it must be mapped from the latter E
Lời giải
Đáp án đúng gồm ba ý: "If we replace the Caesar Cipher with a Monoalphabetic Cipher, then it becomes harder to crack by an attacker (who does not know the key).", "The ordering between the Caesar and the Permutation does not matter within the product cipher, so we can decrypt it in any order." và "Letter Z appeared the most in the ciphertext, so it must be mapped from the latter E". Mã tích ở đây gồm phép thay thế (Caesar, đổi từng chữ) và phép hoán vị (đổi chỗ trong khối 5 chữ). Thay Caesar bằng mã đơn bảng nâng không gian khoá thay thế từ 26 lên 26! ≈ 4 × 10^26 nên khó phá hơn. Thay thế tác động lên giá trị từng chữ, hoán vị chỉ tác động lên vị trí, hai phép giao hoán nên thứ tự áp dụng và giải mã không quan trọng. Hoán vị không đổi số lần xuất hiện của mỗi chữ và Caesar chỉ đổi tên chữ, nên chữ nhiều nhất trong bản mã là ảnh của e. Ngược lại, câu "AX appeared the most in the ciphertext, so they must be TH" sai vì hoán vị đã phá vỡ các cặp chữ liền kề nên tần suất chữ ghép không còn giữ. Câu "two Caesar Cipher operations and a Permutation Cipher operation" sai vì hai lần dịch Caesar gộp lại vẫn chỉ là một lần dịch, ví dụ dịch 3 rồi dịch 5 bằng dịch 8, không thêm an toàn.
Mở trang câu hỏi này →
A1
B13
C26
D52
Lời giải
Đáp án đúng: "26". Bản mã QNGWFWD thuộc mật mã Caesar (mã dịch), chỉ có 26 khoá dịch từ 0 đến 25. Quên khoá thì phải vét cạn: thử dịch ngược bản mã theo từng khoá rồi xem kết quả nào thành từ có nghĩa. Trong trường hợp xấu nhất, khoá đúng là khoá thử sau cùng, nên phải giải mã đủ 26 lần (nếu bỏ khoá 0 vì giữ nguyên bản rõ thì còn 25 lần, vẫn gần nhất với 26). "1" là trường hợp may mắn nhất, trúng ngay lần đầu. "13" là số lần thử trung bình 26 / 2, không phải trường hợp xấu nhất. "52" gấp đôi số khoá, có thể do tính riêng chữ hoa và chữ thường, nhưng Caesar trên bảng 26 chữ cái chỉ có 26 phép dịch. Không gian khoá nhỏ như vậy là lý do Caesar bị phá tức thời bằng vét cạn.
Mở trang câu hỏi này →
ACTR
BOFB
CCBC
DCFB
EECB
Lời giải
Đáp án đúng: "CTR". Ở chế độ CTR (Counter), mã khối mã hoá các giá trị bộ đếm nonce‖i để sinh dòng khoá, rồi XOR với bản rõ; giống OFB ở chỗ mã khối chỉ sinh dòng khoá, lỗi một bit bản mã chỉ hỏng đúng bit đó và có thể chuẩn bị dòng khoá trước. Khác biệt là khối thứ i chỉ cần E(K, nonce‖i) nên giải mã được bất kỳ khối nào ngay mà không cần các khối trước, tức truy cập ngẫu nhiên, và chạy song song được. "OFB" chính là chế độ đang được so sánh, mỗi khối dòng khoá phụ thuộc khối trước nên phải tính tuần tự. "CBC" XOR bản rõ với bản mã trước rồi mới mã hoá, không phải kiểu dòng khoá như OFB. "CFB" đưa bản mã trước vào sinh dòng khoá, nên giống mã dòng hơn nhưng vẫn móc xích. "ECB" mã từng khối độc lập, truy cập ngẫu nhiên được nhưng không hề giống OFB và lộ mẫu lặp.
Mở trang câu hỏi này →
A0
B16
C32
D64
Lời giải
Đáp án đúng: "32". Mã khối (block cipher) chỉ mã hoá được trọn từng khối có kích thước cố định, ở đây 64 bit; dữ liệu 32 bit chưa đủ một khối nên phải đệm (padding) thêm 64 − 32 = 32 bit, ví dụ theo PKCS#7 hay đệm bit 1 rồi các bit 0, để có đúng một khối 64 bit rồi mới đưa vào hàm mã hoá. "0" là đáp án cho mã dòng, vốn XOR từng bit với dòng khoá dài bằng dữ liệu nên không cần đệm, không phải trường hợp mã khối. "16" không ứng với phép tính nào, chỉ đưa dữ liệu lên 48 bit, vẫn thiếu một khối. "64" đệm thêm trọn một khối, khiến tổng thành 96 bit, không phải bội của 64.
Mở trang câu hỏi này →
AWeak collision resistance
BOne-way property
CPre-image resistance
DStrong collision resistance
Lời giải
Đáp án đúng: "Pre-image resistance". Định nghĩa trong câu là: cho một phần tử h trong miền giá trị của hàm băm, không thể tìm được, bằng tính toán khả thi, đầu vào x nào có H(x) = h; nghĩa là hàm khó đảo ngược. Tên chuẩn của tính chất này là kháng tiền ảnh (pre-image resistance), vì x là tiền ảnh của h. Cần nói thẳng: "One-way property" (tính một chiều) là tên gọi khác của cùng tính chất đó, nên xét về nội dung nó không sai; nhưng câu chỉ cho chọn một, và định nghĩa nêu theo ngôn ngữ miền giá trị và tiền ảnh nên tên chuẩn được chọn là kháng tiền ảnh. "Weak collision resistance" là kháng tiền ảnh thứ hai: cho trước một đầu vào x, không tìm được y ≠ x cùng giá trị băm; điểm xuất phát là một đầu vào chứ không phải một giá trị băm. "Strong collision resistance" đòi không tìm được bất kỳ cặp đầu vào nào trùng băm, không gắn với giá trị cho trước nào.
Mở trang câu hỏi này →
ATrue
BFalse
Lời giải
Đáp án đúng: "True". Một sơ đồ chữ ký số (digital signature scheme) thường gồm ba thuật toán. Thứ nhất là sinh khoá (key generation), tạo cặp khoá riêng để ký và khoá công khai để kiểm. Thứ hai là ký (signing), nhận thông điệp, thường là giá trị băm của nó, cùng khoá riêng và cho ra chữ ký. Thứ ba là kiểm tra (verification), nhận thông điệp, chữ ký và khoá công khai rồi trả về chấp nhận hay từ chối. Ví dụ với RSA, chữ ký là S = H(M)^d mod n và người kiểm tính S^e mod n rồi so với H(M). Yêu cầu an toàn là không ai thiếu khoá riêng tạo được chữ ký hợp lệ cho thông điệp mới. Câu hỏi bỏ lửng sau dấu hai chấm nhưng mệnh đề ba thuật toán là đúng, nên "False" bị loại.
Mở trang câu hỏi này →
AEasy to produce
BDepends on the message being signed
CDifficult to forge
DUses information unique to the sender
EVerifiable by a trusted third party
Lời giải
Đáp án đúng: "Verifiable by a trusted third party". Các yêu cầu của chữ ký số là: chữ ký phụ thuộc vào thông điệp được ký, dùng thông tin riêng của người gửi để chống giả mạo và chối bỏ, dễ tạo, dễ nhận ra và kiểm tra, và không thể giả mạo trong thời gian khả thi. Việc kiểm tra được thực hiện bởi bất kỳ ai có khoá công khai của người ký, không cần một bên thứ ba tin cậy đứng giữa; sơ đồ cần bên trọng tài là dạng chữ ký có trọng tài, không phải yêu cầu chung. "Easy to produce" là yêu cầu để người ký dùng được trong thực tế. "Depends on the message being signed" giúp chữ ký không bị bóc ra gắn sang thông điệp khác. "Difficult to forge" là yêu cầu an toàn cốt lõi. "Uses information unique to the sender" là khoá riêng, đảm bảo chỉ người gửi tạo được chữ ký và không chối bỏ được.
Mở trang câu hỏi này →
ATakes the hash of the p and then encrypting using its private key
BTakes the hash of the p and then encrypting using its public key
CTakes p and encrypt it using its private key
DTakes p and encrypt it using its public key
EEncrypt p using its private key and then take the hash
FEncrypt p using its public key and then take the hash
Lời giải
Đáp án đúng: "Takes the hash of the p and then encrypting using its private key". Cả chữ ký RSA lẫn DSS đều ký trên giá trị băm: người gửi tính H(p) có độ dài cố định rồi dùng khoá riêng của mình biến đổi nó thành chữ ký (với RSA là s = H(p)^d mod n, với DSS là thuật toán DSA dùng khoá riêng sinh cặp r, s), và gửi kèm p. Người nhận băm lại p và kiểm bằng khoá công khai của người gửi; chỉ người có khoá riêng mới tạo được chữ ký đúng, nên có xác thực và chống chối bỏ. "Takes the hash of the p and then encrypting using its public key" sai vì khoá công khai ai cũng có, ai cũng tạo được, nên không chứng minh gì về người gửi. "Takes p and encrypt it using its private key" bỏ bước băm: thông điệp dài phải ký từng khối rất chậm, chữ ký dài bằng thông điệp và RSA thô còn dễ bị giả mạo nhờ tính chất nhân. "Takes p and encrypt it using its public key" là mã hoá chứ không phải ký, và mã bằng khoá công khai của chính người gửi thì người nhận không giải được. "Encrypt p using its private key and then take the hash" và "Encrypt p using its public key and then take the hash" đảo thứ tự: giá trị băm của bản mã không liên kết được với khoá công khai, người nhận không có cách nào kiểm.
Mở trang câu hỏi này →
ATrue
BFalse
Lời giải
Đáp án đúng: "True". An ninh nhờ che giấu (security by obscurity) là cách bảo vệ hệ thống bằng việc giữ kín thiết kế hay thuật toán thay vì dựa vào khoá. Lịch sử cho thấy cách này dễ đổ vỡ: thuật toán bí mật sớm muộn cũng lộ qua dịch ngược, rò rỉ hay người trong cuộc, và khi lộ thì toàn bộ hệ thống mất an toàn cùng lúc, không thể thay như thay một khoá. Các ví dụ nổi tiếng là mã A5/1 của GSM hay CSS bảo vệ đĩa DVD, đều bị phân tích và phá sau khi bị dịch ngược. Vì thế nguyên lý Kerckhoffs yêu cầu hệ mật phải an toàn ngay cả khi thuật toán công khai, và các chuẩn như AES được chọn qua cuộc thi mở để cộng đồng soi xét. Phát biểu đúng, nên "False" bị loại.
Mở trang câu hỏi này →