MLN122Trung bìnhKỳ 8Đại cương Cập nhật 20 giờ trước

Kinh tế chính trị Mác - Lênin

MLN122 - Kinh tế chính trị Mác - Lênin là môn thuộc khối lý luận chính trị trong chương trình đại cương bậc cử nhân của Đại học FPT. Môn đi tìm lời đáp cho một câu hỏi cũ mà chưa bao giờ hết thời sự: của cải trong một xã hội được làm ra bằng cách nào, rồi chia cho ai theo luật lệ nào, và vì sao cách chia ấy lại thay đổi qua từng thời kỳ. Khác với những môn kinh tế chỉ mô tả giá cả và sản lượng, ở đây đối tượng là quan hệ giữa người với người ẩn sau các con số: ai nắm tư liệu sản xuất, ai phải bán sức lao động, phần dôi ra thuộc về bên nào. Điểm xuất phát là hàng hóa, tế bào của nền kinh tế thị trường, với hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng cùng tính hai mặt của lao động sản xuất ra nó; từ đó mới hiểu được vì sao thời gian lao động xã hội cần thiết quyết định lượng giá trị, vì sao tiền tệ ra đời, và quy luật giá trị điều tiết sản xuất theo cơ chế nào. Mạch thứ hai là giá trị thặng dư: sức lao động trở thành hàng hóa trong điều kiện nào, vì sao chỉ riêng nó tạo ra lượng giá trị lớn hơn giá trị bản thân, hai con đường kéo dài ngày lao động và tăng năng suất xã hội khác nhau ra sao, rồi lợi nhuận, lợi tức và địa tô che giấu nguồn gốc ấy bằng cách nào. Xuyên suốt cả hai mạch, công cụ làm việc là trừu tượng hóa khoa học, bởi quan hệ kinh tế không đem vào phòng thí nghiệm được mà phải gạt cái ngẫu nhiên để giữ lấy cái bản chất. Mạch thứ ba theo dấu sự vận động của chính nền kinh tế đó: cạnh tranh tự do dẫn tới tích tụ và tập trung sản xuất, độc quyền hình thành rồi kết hợp với sức mạnh nhà nước, đồng thời bộc lộ những biểu hiện mới của thời nay. Hai mạch cuối hướng hẳn về Việt Nam. Một bên là con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cùng những được và mất của hội nhập kinh tế quốc tế. Bên kia là mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo quy luật thị trường nhưng có sự quản lý của Nhà nước, nơi các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội phải được đặt hài hòa với nhau. Lợi ích: người học đọc được tin tức kinh tế ở tầng sâu hơn con số, hiểu vì sao giá cả lên xuống quanh giá trị chứ không trùng với nó, phân biệt được những cặp rất dễ nhầm khi làm bài trắc nghiệm như giá trị với giá cả, lao động cụ thể với lao động trừu tượng, tư bản bất biến với tư bản cố định, giá trị thặng dư tuyệt đối với tương đối, tích tụ với tập trung tư bản. Ngân hàng câu hỏi của môn kèm lời giải nêu rõ đáp án đúng dựa vào căn cứ nào và từng phương án còn lại sai ở chỗ nào, nên dùng được cả để ôn thi lẫn để tự rà lại chỗ mình đang hiểu lệch.

661Câu hỏi
9Bộ đề
6Chủ đề
5,03 đánh giá

Câu hỏi của môn

164/661 câuCòn 497
ATư bản tiền tệ
BTư bản sản xuất
CTư bản hàng hoá
DTư bản cho vay
Lời giải
Tư bản bất biến và tư bản khả biến là hai loại tư bản sản xuất khác nhau. Tư bản bất biến là số vốn cố định, bao gồm các thiết bị, máy móc và công nghệ sản xuất. Tư bản khả biến là số vốn có thể thay đổi theo nhu cầu sản xuất, bao gồm nguyên vật liệu, lao động và các chi phí khác. Cả hai loại tư bản đều đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất và tạo ra giá trị thặng dư. Tư bản bất biến giúp tạo ra giá trị thặng dư thông qua quá trình sản xuất, trong khi tư bản khả biến giúp tăng cường quá trình sản xuất và tạo ra giá trị thặng dư lớn hơn. Vì vậy, tư bản bất biến và tư bản khả biến đều thuộc phạm trù tư bản sản xuất.
Mở trang câu hỏi này →
AG = c + p + m
BG = c + v + p
CG = k + v + m
DG = c + v + m
Lời giải
Lượng giá trị một đơn vị hàng hóa (G) được xác định bởi ba yếu tố chính là chi phí sản xuất (c), giá trị sử dụng (v) và lợi ích mang lại (m). Trong đó, chi phí sản xuất (c) bao gồm tất cả các chi phí liên quan đến quá trình sản xuất hàng hóa, như chi phí nguyên liệu, chi phí lao động, chi phí máy móc và thiết bị. Giá trị sử dụng (v) là giá trị mà hàng hóa mang lại cho người tiêu dùng, bao gồm cả giá trị sử dụng trực tiếp và gián tiếp. Lợi ích mang lại (m) là lợi ích mà hàng hóa mang lại cho người tiêu dùng, bao gồm cả lợi ích về mặt tinh thần và vật chất. Vì vậy, công thức cấu thành lượng giá trị một đơn vị hàng hóa (G) là G = c + v + m.
Mở trang câu hỏi này →
ASự hình thành chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xoá nhòa sự khác nhau giữa c (tư bản bất biến) và v (tư bản khả biến)
BDo chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn nhỏ hơn chi phí sản xuất thực tế
CSự hình thành của giá trị thặng dư và chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa
DChi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn luôn nhỏ hơn giá của hàng hóa bán ra
Lời giải
Phạm trù lợi nhuận được coi là hình thái thần bí hóa của giá trị thặng dư. Để hiểu nguyên nhân của việc này, chúng ta cần phân tích các yếu tố liên quan. Sự hình thành chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa đã làm nhòa đi sự khác nhau giữa tư bản bất biến (c) và tư bản khả biến (v). Điều này dẫn đến việc lợi nhuận không còn được nhìn nhận như một phần của giá trị thặng dư mà đã trở thành một khái niệm độc lập. Ngoài ra, chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn nhỏ hơn chi phí sản xuất thực tế, điều này cũng góp phần vào việc thần bí hóa lợi nhuận. Vì vậy, sự hình thành chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa và sự khác biệt giữa chi phí sản xuất thực tế và chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là hai nguyên nhân chính dẫn đến việc lợi nhuận trở thành một hình thái thần bí hóa của giá trị thặng dư.
Mở trang câu hỏi này →
AGiá trị mới bằng giá trị bản thân nó
BGiá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó
CGiá trị mới nhỏ hơn giá trị bản thân nó
DGiá trị sử dụng mới nhỏ hơn giá trị sử dụng bản thân nó
Lời giải
Khi sử dụng hàng hóa sức lao động, giá trị mới được tạo ra sẽ lớn hơn giá trị bản thân nó. Điều này là vì hàng hóa sức lao động không chỉ mang lại giá trị sử dụng mới mà còn tạo ra giá trị mới thông qua quá trình lao động. Giá trị mới này được tạo ra thông qua việc kết hợp giữa sức lao động và các yếu tố sản xuất khác như tư liệu sản xuất, vốn và công nghệ. Quá trình này được gọi là quá trình sản xuất giá trị thặng dư. Trong quá trình này, giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động được chuyển đổi thành giá trị mới, tạo ra lợi nhuận cho người lao động và chủ sở hữu hàng hóa sức lao động.
Mở trang câu hỏi này →
ATư bản hàng hóa
BTư bản tiền tệ
CTư bản sản xuất
DTư bản tiêu dùng
Lời giải
Trong tuần hoàn tư bản, giai đoạn đầu tiên được gọi là giai đoạn lưu thông tư bản. Trong giai đoạn này, tư bản được chuyển đổi từ hình thái hàng hóa sang hình thái tiền tệ. Điều này diễn ra khi người sản xuất hàng hóa bán chúng trên thị trường để đổi lấy tiền. Tiền này sau đó được sử dụng để mua hàng hóa và dịch vụ khác. Quá trình này thể hiện sự chuyển đổi của tư bản từ hình thái vật chất sang hình thái tiền tệ, tạo điều kiện cho việc tái sản xuất và mở rộng quy mô sản xuất. Trong giai đoạn lưu thông tư bản, tư bản tiền tệ trở thành yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất và tái sản xuất.
Mở trang câu hỏi này →
150Tích lũy tư bản là gì?4 lựa chọnDễ81% trả lời đúng
ATư bản hóa tư liệu tiêu dùng
BTư bản hóa giá trị thặng dư
CTư bản hóa sức lao động
DTư bản hóa giá trị sản xuất
Lời giải
Tích lũy tư bản là quá trình hình thành và tăng trưởng của tư bản. Tư bản hóa giá trị thặng dư là quá trình chuyển đổi giá trị thặng dư, được tạo ra từ sức lao động không được trả đủ, thành tư bản. Điều này xảy ra khi người lao động không nhận được đủ giá trị của sản phẩm họ tạo ra, và do đó, giá trị thặng dư được tạo ra. Tư bản hóa giá trị thặng dư là một phần quan trọng của quá trình tích lũy tư bản, vì nó cho phép người nắm giữ tư bản đầu tư vào sản xuất và tạo ra lợi nhuận.
Mở trang câu hỏi này →
151Nguồn gốc của giá trị thặng dư từ đâu mà có?4 lựa chọnTrung bình50% trả lời đúng
AMua hàng hóa thấp hơn giá trị thật
BMua hàng hóa cao hơn giá trị thật
CMua hàng hóa bằng giá trị thật
DMua được hàng hóa sức lao động
Lời giải
Giá trị thặng dư là một khái niệm quan trọng trong kinh tế học, đặc biệt là trong chủ nghĩa Mác. Theo đó, giá trị thặng dư được hình thành từ việc người lao động tạo ra giá trị vượt quá giá trị của sản phẩm mà họ tiêu thụ. Điều này xảy ra khi người lao động sản xuất ra hàng hóa với giá trị cao hơn giá trị của hàng hóa mà họ mua để sống và sản xuất. Ví dụ, một người nông dân trồng lúa để bán, nhưng họ phải mua phân bón, giống lúa và các thiết bị khác để sản xuất. Nếu giá trị của lúa sau khi thu hoạch cao hơn giá trị của các hàng hóa mà họ mua, thì giá trị thặng dư được tạo ra. Giá trị thặng dư này là kết quả của lao động có giá trị cao hơn giá trị của hàng hóa mà người lao động tiêu thụ.
Mở trang câu hỏi này →
Av
Bv + m
Cm
Dc
Lời giải
Trong công thức W = c + v + m, hao phí lao động quá khứ được biểu diễn bởi đại lượng c. Đây là chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để sản xuất ra một sản phẩm, bao gồm cả chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công và chi phí khác. Trong đó, c là đại lượng thể hiện chi phí lao động quá khứ, bao gồm cả chi phí nhân công và chi phí khác. Vì vậy, trong công thức W = c + v + m, hao phí lao động quá khứ là đại lượng c.
Mở trang câu hỏi này →
153Mức độ giàu có của xã hội phụ thuộc chủ yếu vào:4 lựa chọnDễ100% trả lời đúng
ATrình độ khoa học công nghệ
BTài nguyên thiên nhiên
CKhối lượng sản phẩm thặng dư
DQuy mô nền kinh tế
Lời giải
Mức độ giàu có của xã hội thường được đo lường bằng cách xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế. Trong số các lựa chọn trên, khối lượng sản phẩm thặng dư là yếu tố quan trọng nhất. Sản phẩm thặng dư là phần sản phẩm vượt quá nhu cầu tiêu thụ trong nước, được xuất khẩu ra nước ngoài để đổi lấy các mặt hàng khác. Khi một xã hội có khối lượng sản phẩm thặng dư lớn, điều đó thường cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, khả năng sản xuất và xuất khẩu cao. Điều này giúp xã hội đó có thể tích lũy tài sản, cải thiện mức sống của người dân và đạt được mức độ giàu có cao hơn.
Mở trang câu hỏi này →
154Bản chất tiền công trong chủ nghĩa tư bản là:4 lựa chọnTrung bình67% trả lời đúng
AHình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động
BHình thức biểu hiện bằng tiền của giá cả sức lao động
CHình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị lao động
DHình thức biểu hiện bằng tiền của giá cả của lao động
Lời giải
Tiền công trong chủ nghĩa tư bản được định nghĩa là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động. Điều này có nghĩa là tiền công được tính toán dựa trên giá trị mà lao động của người lao động tạo ra trong quá trình sản xuất. Giá trị sức lao động được xác định bởi thời gian lao động và mức độ phức tạp của công việc. Trong chủ nghĩa tư bản, tiền công được coi là một phần của giá trị sản phẩm, và nó được trả cho người lao động để bù đắp cho lao động của họ. Tuy nhiên, tiền công không phải lúc nào cũng phản ánh chính xác giá trị thực tế của lao động, vì nó có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như thị trường lao động, giá cả hàng hóa và dịch vụ, và chính sách của nhà nước.
Mở trang câu hỏi này →
155Trên phương diện kinh tế chính trị, tái sản xuất là:3 lựa chọnTrung bình67% trả lời đúng
ALà quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại và phục hồi không ngừng
BLà quá trình sản xuất liên tục
CLà sự khôi phục lại sản xuất
Lời giải
Tái sản xuất trên phương diện kinh tế chính trị được hiểu là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại và phục hồi không ngừng. Điều này có nghĩa là quá trình sản xuất không chỉ dừng lại ở việc tạo ra sản phẩm mà còn bao gồm cả việc tái tạo và phục hồi các nguồn lực, tài nguyên và lao động để tiếp tục sản xuất. Quá trình tái sản xuất này là cơ bản để duy trì sự phát triển kinh tế và xã hội của một quốc gia. Nó liên quan đến việc tái tạo và phục hồi các yếu tố sản xuất như máy móc, thiết bị, vật liệu, lao động và các nguồn lực khác để tiếp tục sản xuất và tạo ra giá trị mới. Quá trình tái sản xuất này không chỉ giúp duy trì sự ổn định kinh tế mà còn tạo điều kiện cho sự phát triển và đổi mới.
Mở trang câu hỏi này →
156Công thức chung của tư bản là gì?4 lựa chọnTrung bình61% trả lời đúng
AT-H-T'
BT-H-T
CH-T-H
DT-H-H-T
Lời giải
Công thức chung của tư bản được biểu diễn bởi T-H-T', trong đó T đại diện cho lao động sống, H đại diện cho lao động đã được biến đổi thành hàng hóa và T' là lao động sống đã được biến đổi. Điều này cho thấy tư bản bao gồm lao động sống và lao động đã được biến đổi, tạo thành một chuỗi sản xuất liên tục. Công thức này được Karl Marx sử dụng để mô tả cơ chế sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Mở trang câu hỏi này →
AĐộc quyền kinh doanh ruộng đất theo kiểu tư bản chủ nghĩa là nguyên nhân sinh ra địa tô chênh lệch, còn độc quyền tư hữu về ruộng đất là nguyên nhân sinh ra địa tô tuyệt đối
BĐộc quyền sở hữu đất đai theo kiểu tư bản chủ nghĩa là nguyên nhân sinh ra địa tô chênh lệch, còn độc quyền tư hữu về ruộng đất là nguyên nhân sinh ra địa tô tuyệt đối
CĐộc quyền kinh doanh ruộng đất theo kiểu tư bản chủ nghĩa là nguyên nhân sinh ra địa tô chênh lệch, còn độc quyền sử dụng về ruộng đất là nguyên nhân sinh ra địa tô tuyệt đối
Lời giải
Sự khác nhau giữa địa tô tuyệt đối và địa tô chênh lệch nằm ở nguyên nhân sinh ra chúng. Địa tô tuyệt đối là hình thức địa tô xuất hiện khi có độc quyền tư hữu về ruộng đất. Điều này có nghĩa là người sở hữu ruộng đất có thể độc quyền sử dụng và khai thác, từ đó tạo ra lợi nhuận không dựa trên lao động sản xuất mà dựa trên việc nắm giữ tài sản. Ngược lại, địa tô chênh lệch là hình thức địa tô xuất hiện khi có độc quyền kinh doanh ruộng đất theo kiểu tư bản chủ nghĩa. Điều này có nghĩa là người sở hữu ruộng đất không chỉ có quyền sở hữu mà còn có quyền quyết định cách sử dụng và khai thác ruộng đất, từ đó tạo ra lợi nhuận dựa trên sự chênh lệch về giá trị sản xuất.
Mở trang câu hỏi này →
158Mức độ bóc lột của nhà tư bản được tính bằng:3 lựa chọnDễ100% trả lời đúng
ATỷ suất lợi nhuận
BTỷ suất giá trị thặng dư
CTỷ suất lợi nhuận bình quân
Lời giải
Mức độ bóc lột của nhà tư bản được tính bằng tỷ suất giá trị thặng dư. Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ lệ giữa giá trị thặng dư và giá trị sản xuất. Giá trị thặng dư là phần giá trị của sản phẩm vượt quá giá trị của lao động trực tiếp và gián tiếp đã bỏ vào sản phẩm. Giá trị thặng dư được tạo ra khi lao động sản xuất ra sản phẩm với giá trị lớn hơn giá trị của vật liệu, thiết bị và lao động đã sử dụng. Tỷ suất giá trị thặng dư cho thấy mức độ hiệu quả của quá trình sản xuất và mức độ bóc lột của nhà tư bản.
Mở trang câu hỏi này →
159Khi nào tiền tệ biến thành tư bản?4 lựa chọnDễ86% trả lời đúng
ASức lao động trở thành hàng hoá
BDùng tiền để buôn bán mua rẻ, bán đắt
CCó lượng tiền tệ đủ lớn
DTiền đưa vào dự trữ
Lời giải
Tiền tệ biến thành tư bản khi sức lao động của con người trở thành hàng hóa. Điều này xảy ra khi người lao động không còn tự do lựa chọn công việc và phải bán sức lao động của mình cho người khác để có thể tồn tại. Người lao động trở thành một loại hàng hóa có thể được mua bán, và tiền tệ trở thành công cụ để trao đổi sức lao động này. Điều này đánh dấu sự xuất hiện của tư bản và sự phân chia xã hội thành người lao động và người tư bản.
Mở trang câu hỏi này →
160Quá trình sản xuất tư bản là quá trình sản xuất:3 lựa chọnDễ100% trả lời đúng
AGiá trị sử dụng
BGiá trị thặng dư
CGiá trị trao đổi
Lời giải
Quá trình sản xuất tư bản là quá trình sản xuất giá trị thặng dư. Theo lý thuyết kinh tế chính trị của Marx, quá trình sản xuất tư bản là quá trình sản xuất hàng hóa để tạo ra lợi nhuận. Trong quá trình này, người lao động tạo ra giá trị thặng dư, đó là phần giá trị vượt quá giá trị của sản phẩm mà họ đã tạo ra. Giá trị thặng dư này được tạo ra thông qua lao động cưỡng bức và được sử dụng để tạo ra lợi nhuận cho chủ tư bản. Quá trình sản xuất tư bản là cơ sở của hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa, nơi mà lợi nhuận là động lực chính của sản xuất.
Mở trang câu hỏi này →
161Phương pháp tạo ra giá trị thặng dư tuyệt đối là gì?4 lựa chọnTrung bình67% trả lời đúng
AKéo dài thời gian lao động thặng dư khi thời gian lao động tất yếu, năng suất lao động và giá trị sức lao động không đổi
BKéo dài thời gian lao động tất yếu khi thời gian lao động thặng dư, năng suất lao động và giá trị sức lao động không đổi
CRút ngắn thời gian lao động thặng dư khi thời gian lao động tất yếu, năng suất lao động và giá trị sức lao động không đổi
DRút ngắn thời gian lao động tất yếu khi thời gian lao động thặng dư, năng suất lao động và giá trị sức lao động không đổi
Lời giải
Phương pháp tạo ra giá trị thặng dư tuyệt đối là một trong những khái niệm quan trọng trong kinh tế học. Theo lý thuyết giá trị lao động của Karl Marx, giá trị thặng dư tuyệt đối được tạo ra khi người lao động làm việc nhiều hơn thời gian cần thiết để sản xuất ra sản phẩm. Điều này có nghĩa là người lao động phải làm việc nhiều hơn thời gian để tạo ra sản phẩm, nhưng giá trị của sản phẩm không thay đổi. Phương pháp này liên quan đến việc kéo dài thời gian lao động thặng dư khi thời gian lao động tất yếu, năng suất lao động và giá trị sức lao động không đổi. Điều này có nghĩa là người lao động phải làm việc nhiều hơn thời gian cần thiết để tạo ra sản phẩm, nhưng giá trị của sản phẩm không thay đổi. Phương pháp này giúp tạo ra giá trị thặng dư tuyệt đối, giúp người lao động tạo ra sản phẩm với giá trị cao hơn.
Mở trang câu hỏi này →
162Các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ suất lợi nhuận đó là:4 lựa chọnKhó33% trả lời đúng
ATỷ suất giá trị thặng dư, tốc độ chu chuyển tư bản, cấu tạo hữu cơ của tư bản, tiết kiệm tư bản bất biến
BTỷ suất lợi tức, tốc độ chu chuyển tư bản, cấu tạo hữu cơ của tư bản, tiết kiệm tư bản bất biến
CKhối lượng giá trị thặng dư, tỷ suất giá trị thặng dư, cấu tạo hữu cơ của tư bản, tiết kiệm tư bản bất biến
DKhối lượng giá trị thặng dư, tỷ suất lợi tức, tỷ suất giá trị thặng dư, tốc độ chu chuyển của tư bản
Lời giải
Các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ suất lợi nhuận bao gồm tỷ suất giá trị thặng dư, tốc độ chu chuyển tư bản, cấu tạo hữu cơ của tư bản và tiết kiệm tư bản bất biến. Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ lệ giữa giá trị thặng dư và giá trị tư bản thâm nhập vào quá trình sản xuất. Tốc độ chu chuyển tư bản là tốc độ mà tư bản được tái sản xuất và tái đầu tư vào quá trình sản xuất. Cấu tạo hữu cơ của tư bản bao gồm tỷ lệ giữa tư bản sống và tư bản chết. Tiết kiệm tư bản bất biến là số lượng tư bản được giữ lại và không được tái đầu tư vào quá trình sản xuất. Tất cả các nhân tố này đều đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tỷ suất lợi nhuận của một doanh nghiệp.
Mở trang câu hỏi này →
AĐầu tư thêm 50 USD cho nguyên liệu, 5 USD cho hao mòn máy móc và bắt công nhân làm thêm 4 giờ nữa như thoả thuận
BNgay từ thời điểm làm xong 4 giờ thì giá trị thặng dư được tạo ra rồi
CNhà tư bản cần bắt công nhân tăng ca 4 giờ nữa bên cạnh 8 giờ thoả thuận
DNhà tư bản yêu cầu công nhân tăng ca thêm 6 giờ nữa để tạo ra giá trị mới
Lời giải
Để giá trị thặng dư được tạo ra 15 USD, nhà tư bản cần xem xét lại quy trình sản xuất. Ban đầu, nhà tư bản đã đầu tư 50 USD cho nguyên vật liệu, 5 USD cho hao mòn máy móc và 15 USD để trả công cho công nhân. Tuy nhiên, công nhân đã làm xong 10 mét vải chỉ trong 4 giờ, thay vì 8 giờ như thoả thuận. Điều này có nghĩa là công nhân đã tạo ra giá trị thặng dư 10 USD (15 - 5) chỉ trong 4 giờ. Để tạo ra giá trị thặng dư 15 USD, nhà tư bản cần bắt công nhân làm thêm 4 giờ nữa, tương đương với 1 giờ mỗi giờ. Điều này sẽ giúp công nhân tạo ra thêm 5 USD giá trị thặng dư, đủ để đạt được mục tiêu 15 USD. Vì vậy, nhà tư bản cần đầu tư thêm 50 USD cho nguyên liệu, 5 USD cho hao mòn máy móc và bắt công nhân làm thêm 4 giờ nữa như thoả thuận.
Mở trang câu hỏi này →
164Hàng hóa sức lao động ra đời phải dựa trên:3 lựa chọnDễ90% trả lời đúng
ABa điều kiện
BMột điều kiện
CHai điều kiện
Lời giải
Hàng hóa sức lao động là một khái niệm quan trọng trong kinh tế học. Nó được định nghĩa là hàng hóa được tạo ra từ lao động con người. Để hàng hóa sức lao động ra đời, cần phải dựa trên hai điều kiện cơ bản. Thứ nhất, lao động phải được tạo ra từ con người. Điều này có nghĩa là hàng hóa sức lao động phải được tạo ra từ quá trình lao động của con người, chứ không phải từ tự nhiên hoặc từ các nguồn lực khác. Thứ hai, lao động phải được trao đổi hoặc bán trên thị trường. Điều này có nghĩa là hàng hóa sức lao động phải được trao đổi hoặc bán cho người khác, chứ không phải được sử dụng trực tiếp bởi người lao động.
Mở trang câu hỏi này →