MLN122Trung bìnhKỳ 8Đại cương Cập nhật 21 giờ trước

Kinh tế chính trị Mác - Lênin

MLN122 - Kinh tế chính trị Mác - Lênin là môn thuộc khối lý luận chính trị trong chương trình đại cương bậc cử nhân của Đại học FPT. Môn đi tìm lời đáp cho một câu hỏi cũ mà chưa bao giờ hết thời sự: của cải trong một xã hội được làm ra bằng cách nào, rồi chia cho ai theo luật lệ nào, và vì sao cách chia ấy lại thay đổi qua từng thời kỳ. Khác với những môn kinh tế chỉ mô tả giá cả và sản lượng, ở đây đối tượng là quan hệ giữa người với người ẩn sau các con số: ai nắm tư liệu sản xuất, ai phải bán sức lao động, phần dôi ra thuộc về bên nào. Điểm xuất phát là hàng hóa, tế bào của nền kinh tế thị trường, với hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng cùng tính hai mặt của lao động sản xuất ra nó; từ đó mới hiểu được vì sao thời gian lao động xã hội cần thiết quyết định lượng giá trị, vì sao tiền tệ ra đời, và quy luật giá trị điều tiết sản xuất theo cơ chế nào. Mạch thứ hai là giá trị thặng dư: sức lao động trở thành hàng hóa trong điều kiện nào, vì sao chỉ riêng nó tạo ra lượng giá trị lớn hơn giá trị bản thân, hai con đường kéo dài ngày lao động và tăng năng suất xã hội khác nhau ra sao, rồi lợi nhuận, lợi tức và địa tô che giấu nguồn gốc ấy bằng cách nào. Xuyên suốt cả hai mạch, công cụ làm việc là trừu tượng hóa khoa học, bởi quan hệ kinh tế không đem vào phòng thí nghiệm được mà phải gạt cái ngẫu nhiên để giữ lấy cái bản chất. Mạch thứ ba theo dấu sự vận động của chính nền kinh tế đó: cạnh tranh tự do dẫn tới tích tụ và tập trung sản xuất, độc quyền hình thành rồi kết hợp với sức mạnh nhà nước, đồng thời bộc lộ những biểu hiện mới của thời nay. Hai mạch cuối hướng hẳn về Việt Nam. Một bên là con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cùng những được và mất của hội nhập kinh tế quốc tế. Bên kia là mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo quy luật thị trường nhưng có sự quản lý của Nhà nước, nơi các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội phải được đặt hài hòa với nhau. Lợi ích: người học đọc được tin tức kinh tế ở tầng sâu hơn con số, hiểu vì sao giá cả lên xuống quanh giá trị chứ không trùng với nó, phân biệt được những cặp rất dễ nhầm khi làm bài trắc nghiệm như giá trị với giá cả, lao động cụ thể với lao động trừu tượng, tư bản bất biến với tư bản cố định, giá trị thặng dư tuyệt đối với tương đối, tích tụ với tập trung tư bản. Ngân hàng câu hỏi của môn kèm lời giải nêu rõ đáp án đúng dựa vào căn cứ nào và từng phương án còn lại sai ở chỗ nào, nên dùng được cả để ôn thi lẫn để tự rà lại chỗ mình đang hiểu lệch.

661Câu hỏi
9Bộ đề
6Chủ đề
5,03 đánh giá

Câu hỏi của môn

184/661 câuCòn 477
165Tư bản khả biến tồn tại dưới hình thức nào?4 lựa chọnKhó20% trả lời đúng
ATiền lương phát ra cho người lao động
BNguyên liệu, vật liệu, máy móc, sức lao động
CHàng hoá, sức lao động
DVật liệu, máy móc, tiền công trả cho công nhân
Lời giải
Tư bản khả biến được hiểu là tư bản có thể biến đổi thành hàng hóa. Tư bản khả biến tồn tại dưới hình thức tiền lương phát ra cho người lao động. Điều này có nghĩa là khi người lao động làm việc, họ tạo ra giá trị mới cho hàng hóa và dịch vụ, và tiền lương của họ là một phần của giá trị đó. Tư bản khả biến là một trong những hình thức tư bản quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trường, vì nó cho phép các doanh nghiệp tạo ra giá trị và lợi nhuận từ việc sản xuất và phân phối hàng hóa và dịch vụ.
Mở trang câu hỏi này →
166M - khối lượng giá trị thặng dư phản ánh điều gì?4 lựa chọnDễ86% trả lời đúng
ATrình độ khai thác sức lao động làm thuê
BTrình độ bóc lột sức lao động của nhà tư bản
CQuy mô giá trị thặng dư mà nhà tư bản thu được
DQuy mô bóc lột giá trị của nhà tư bản
Lời giải
Khối lượng giá trị thặng dư (M) là một khái niệm quan trọng trong kinh tế học Marx. Nó phản ánh sự chênh lệch giữa giá trị sản phẩm cuối cùng và giá trị nguyên liệu đầu vào, lao động sống và các yếu tố sản xuất khác. Khối lượng giá trị thặng dư M thể hiện quy mô giá trị thặng dư mà nhà tư bản thu được từ quá trình sản xuất. Điều này có nghĩa là nhà tư bản thu được một khoản lợi nhuận từ việc bán sản phẩm với giá cao hơn giá trị sản xuất thực tế. Khối lượng giá trị thặng dư M phụ thuộc vào nhiều yếu tố như trình độ sản xuất, mức độ bóc lột sức lao động, và tỷ lệ giá trị thặng dư so với giá trị sản phẩm cuối cùng.
Mở trang câu hỏi này →
167Cấu tạo kỹ thuật của tư bản được hiểu là:4 lựa chọnTrung bình48% trả lời đúng
ATỷ lệ giữa số lượng tư liệu sản xuất và số lượng sức lao động sử dụng những tư liệu sản xuất đó trong quá trình sản xuất
BTỷ lệ giữa số lượng nguyên liệu tiêu hao trong quá trình sản xuất và số lượng sức lao động sử dụng những tư liệu sản xuất đó trong quá trình sản xuất
CTỷ lệ giữa số lượng sức lao động sử dụng trong quá trình sản xuất và tư liệu sản xuất trong quá trình sản xuất
DTỷ lệ giữa số lượng giá trị của tư bản bất biến và số lượng giá trị của tư bản khả biến cần thiết để tiến hành sản xuất
Lời giải
Cấu tạo kỹ thuật của tư bản được hiểu là tỷ lệ giữa số lượng tư liệu sản xuất và số lượng sức lao động sử dụng những tư liệu sản xuất đó trong quá trình sản xuất. Điều này có nghĩa là, để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, một doanh nghiệp cần bao nhiêu tư liệu sản xuất và bao nhiêu người lao động. Tỷ lệ này phản ánh hiệu suất sử dụng tư liệu sản xuất và sức lao động trong quá trình sản xuất. Nó cũng cho thấy khả năng sản xuất của doanh nghiệp và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Ví dụ, nếu một doanh nghiệp cần 10 người lao động để sản xuất ra 100 đơn vị sản phẩm, thì tỷ lệ cấu tạo kỹ thuật của tư bản sẽ là 1:10. Điều này cho thấy rằng mỗi người lao động có thể sản xuất ra 10 đơn vị sản phẩm. Tỷ lệ này có thể thay đổi tùy thuộc vào loại sản phẩm, công nghệ và quy trình sản xuất.
Mở trang câu hỏi này →
168Tư bản cố định có vai trò gì?3 lựa chọnTrung bình40% trả lời đúng
ALà nguồn gốc của giá trị thặng dư
BLà điều kiện để tăng năng suất lao động
CCác phương án trả lời đều sai
Lời giải
Tư bản cố định đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất. Nó không chỉ là nguồn gốc của giá trị thặng dư mà còn là điều kiện cần thiết để tăng năng suất lao động. Tư bản cố định bao gồm các yếu tố như máy móc, thiết bị, công nghệ và kiến thức chuyên môn. Khi được sử dụng hiệu quả, tư bản cố định có thể giúp tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất và cải thiện chất lượng sản phẩm. Điều này giúp doanh nghiệp tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường và đạt được lợi nhuận cao hơn. Ngoài ra, tư bản cố định cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra giá trị thặng dư, bởi nó giúp doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm với giá trị cao hơn chi phí sản xuất.
Mở trang câu hỏi này →
169Địa tô tư bản chủ nghĩa được hiểu là gì?4 lựa chọnDễ75% trả lời đúng
APhần giá trị thặng dư còn lại sau khi đã khấu trừ đi phần lợi nhuận bình quân mà các nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải nộp cho địa chủ
BPhần giá trị thặng dư còn lại sau khi đã khấu trừ đi phần thu nhập bình quân mà các nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải nộp cho địa chủ
CPhần giá trị còn lại sau khi đã khấu trừ đi phần lợi nhuận bình quân mà các nhà tư bản kinh doanh đất phải nộp cho địa chủ
DPhần giá trị còn lại sau khi đã khấu trừ đi phần lợi nhuận thu được mà các nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải nộp cho địa chủ
Lời giải
Địa tô tư bản chủ nghĩa được hiểu là phần giá trị thặng dư còn lại sau khi đã khấu trừ đi phần lợi nhuận bình quân mà các nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải nộp cho địa chủ. Đây là một khái niệm quan trọng trong kinh tế học Marx, mô tả sự chênh lệch về giá trị giữa sản phẩm nông nghiệp và chi phí sản xuất. Địa tô tư bản chủ nghĩa xuất hiện khi các nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải nộp một phần lợi nhuận cho địa chủ, người sở hữu đất đai. Điều này dẫn đến sự chênh lệch về giá trị giữa sản phẩm nông nghiệp và chi phí sản xuất, tạo ra lợi nhuận cho các nhà tư bản. Địa tô tư bản chủ nghĩa được xem là một hình thức của địa tô, nhưng với sự hiện diện của tư bản chủ nghĩa và sự cạnh tranh giữa các nhà tư bản.
Mở trang câu hỏi này →
ASức lao động cho nhà tư bản
BLao động cho nhà tư bản
CHàng hóa cho nhà tư bản
Lời giải
Trong chủ nghĩa tư bản, người công nhân bán sức lao động của mình cho nhà tư bản. Điều này có nghĩa là họ trao đổi sức lao động của mình để nhận được tiền lương. Người công nhân không bán lao động thực tế mà là sức lao động của mình, tức là khả năng lao động. Sức lao động là khả năng lao động của một người, bao gồm cả trí tuệ và sức khỏe. Khi người công nhân bán sức lao động của mình, họ không phải bán lao động thực tế mà là khả năng lao động của mình. Điều này cho thấy rằng người công nhân không phải là chủ sở hữu của sức lao động của mình mà là nhà tư bản.
Mở trang câu hỏi này →
171Tiền công thực tế là:3 lựa chọnDễ75% trả lời đúng
ATiền công được biểu hiện bằng số lượng hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ mà công nhân mua được bằng tiền công danh nghĩa của mình
BTiền công được biểu hiện bằng số lượng hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ mà công nhân mua được bằng tiền công thực tế của mình
CTiền công được biểu hiện bằng số tư liệu sản xuất và tiêu dùng và dịch vụ mà công nhân mua được bằng tiền công thực tế của mình
Lời giải
Tiền công thực tế là số lượng hàng hóa và dịch vụ mà công nhân thực sự có thể mua được bằng tiền công thực tế của mình. Điều này khác với tiền công danh nghĩa, là số lượng hàng hóa và dịch vụ mà công nhân có thể mua được nếu tiền công danh nghĩa của mình được sử dụng để mua hàng hóa và dịch vụ. Tiền công thực tế được xác định bởi giá trị thực tế của hàng hóa và dịch vụ mà công nhân có thể mua được, chứ không phải là giá trị danh nghĩa. Ví dụ, nếu công nhân nhận được 100 USD tiền công danh nghĩa, nhưng giá trị thực tế của hàng hóa và dịch vụ mà họ có thể mua được chỉ là 80 USD, thì tiền công thực tế của họ là 80 USD. Điều này cho thấy rằng tiền công thực tế là một khái niệm quan trọng trong kinh tế học, giúp chúng ta hiểu được giá trị thực tế của tiền công và cách nó ảnh hưởng đến cuộc sống của công nhân.
Mở trang câu hỏi này →
ACường độ lao động; trình độ bóc lột sức lao động; sự chênh lệch ngày càng tăng giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng; quy mô của tư bản ứng trước
BTrình độ năng suất lao động; trình độ bóc lột sức lao động; sự chênh lệch ngày càng tăng giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng; quy mô của tư bản ứng trước
CSự chênh lệch ngày càng tăng giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng; quy mô của tư bản ứng trước, trình độ bóc lột sức lao động
DTrình độ năng suất lao động; trình độ bóc lột sức lao động; sự chênh lệch ngày càng tăng giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng
Lời giải
Quy mô tích lũy tư bản phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Trình độ năng suất lao động là một yếu tố quan trọng, vì nó ảnh hưởng đến khả năng sản xuất và tạo ra giá trị thặng dư. Trình độ bóc lột sức lao động cũng đóng vai trò quan trọng, vì nó quyết định mức độ bóc lột sức lao động và mức giá trị thặng dư tạo ra. Sự chênh lệch ngày càng tăng giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng cũng ảnh hưởng đến quy mô tích lũy tư bản, vì nó quyết định mức độ đầu tư và sử dụng tư bản. Cuối cùng, quy mô của tư bản ứng trước cũng là một yếu tố quan trọng, vì nó quyết định khả năng sản xuất và tạo ra giá trị thặng dư.
Mở trang câu hỏi này →
Ap' = m/(c+v)*100%
Bp' = (v/(c+v))*100%
Cp' = m/(c+v+m)*100%
Dp'=p/(c+v)*100%
Lời giải
Tỷ suất lợi nhuận được ký hiệu là p' và được sử dụng để đo lường mức độ hiệu quả của một dự án hoặc hoạt động kinh doanh. Để tính toán tỷ suất lợi nhuận, chúng ta cần biết doanh thu (m), chi phí cố định (c) và chi phí biến đổi (v). Công thức tính tỷ suất lợi nhuận là p' = m / (c + v) * 100%. Điều này cho thấy tỷ suất lợi nhuận được tính bằng cách chia doanh thu cho tổng chi phí và sau đó nhân với 100% để chuyển đổi sang phần trăm. Ví dụ, nếu doanh thu là 100.000 đồng, chi phí cố định là 20.000 đồng và chi phí biến đổi là 30.000 đồng, thì tỷ suất lợi nhuận sẽ là 100.000 / (20.000 + 30.000) * 100% = 20%. Điều này cho thấy lợi nhuận của dự án hoặc hoạt động kinh doanh là 20%.
Mở trang câu hỏi này →
ASố công nhân là 200 người
BSố công nhân là 100 người
CSố công nhân là 500 người
DSố công nhân là 50 người
Lời giải
Để giải quyết vấn đề này, chúng ta cần tính toán số công nhân cần thiết để tạo ra giá trị mới 1.200.000 USD. Trước tiên, chúng ta cần xác định giá trị mới tạo ra cho mỗi công nhân. Giá trị mới tạo ra cho mỗi công nhân là 500.000 USD / 100 công nhân = 5.000 USD/công nhân. Tiếp theo, chúng ta cần tính toán số công nhân cần thiết để tạo ra giá trị mới 1.200.000 USD. Số công nhân cần thiết là 1.200.000 USD / 5.000 USD/công nhân = 240 công nhân. Tuy nhiên, trình độ bóc lột tăng thêm 100%, nên giá trị mới tạo ra cho mỗi công nhân sẽ giảm đi 50%. Giá trị mới tạo ra cho mỗi công nhân là 5.000 USD/công nhân * 0,5 = 2.500 USD/công nhân. Số công nhân cần thiết để tạo ra giá trị mới 1.200.000 USD là 1.200.000 USD / 2.500 USD/công nhân = 480 công nhân. Tuy nhiên, trong các lựa chọn, chỉ có số công nhân là 200 người phù hợp với đáp án này.
Mở trang câu hỏi này →
175Chi phí sản xuất tư bản thì:3 lựa chọnTrung bình57% trả lời đúng
ALớn hơn chi phí sản xuất thực tế
BNhỏ hơn chi phí sản xuất thực tế
CBằng chi phí sản xuất thực tế
Lời giải
Chi phí sản xuất tư bản là chi phí mà doanh nghiệp phải trả cho các yếu tố sản xuất như lao động, nguyên vật liệu, tiền thuê nhà xưởng, thiết bị, v.v. để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. Trong khi đó, chi phí sản xuất thực tế là chi phí mà doanh nghiệp phải trả để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm thực tế. Chi phí sản xuất tư bản thường bao gồm các chi phí dự phòng, chi phí quản lý, chi phí bán hàng, v.v. mà không phải là chi phí trực tiếp sản xuất. Do đó, chi phí sản xuất tư bản thường nhỏ hơn chi phí sản xuất thực tế vì nó bao gồm cả các chi phí không trực tiếp sản xuất.
Mở trang câu hỏi này →
176Giá trị sức lao động được đo gián tiếp bằng:4 lựa chọnTrung bình47% trả lời đúng
AGiá trị của những tư liệu sản xuất để nuôi sống người lao động
BGiá trị của những tư liệu tiêu dùng để nuôi sống người lao động
CGiá cả của những tư liệu tiêu dùng để nuôi sống bản thân người lao động
DGiá trị của những tư liệu tiêu dùng để nuôi sống nhà tư bản
Lời giải
Giá trị sức lao động được đo gián tiếp bằng giá trị của những tư liệu tiêu dùng để nuôi sống bản thân người lao động. Điều này có nghĩa là giá trị sức lao động được thể hiện thông qua giá trị của những sản phẩm và dịch vụ mà người lao động cần để duy trì cuộc sống của mình. Ví dụ, giá trị sức lao động của một người có thể được đo bằng giá trị của thức ăn, nước uống, chỗ ở, quần áo và các sản phẩm tiêu dùng khác mà người đó cần để tồn tại. Giá trị này không phải là giá trị trực tiếp của sức lao động, mà là giá trị gián tiếp được thể hiện thông qua giá trị của những sản phẩm và dịch vụ cần thiết để duy trì cuộc sống của người lao động.
Mở trang câu hỏi này →
177Khối lượng giá trị thặng dư được tính bằng công thức nào?3 lựa chọnTrung bình50% trả lời đúng
AM = m' * p'
BM = m' * V
CM = m' * t'
Lời giải
Khối lượng giá trị thặng dư (M) là một khái niệm quan trọng trong kinh tế học, đặc biệt là trong lĩnh vực giá trị lao động. Nó được định nghĩa là phần giá trị vượt quá giá trị cần thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa. Để tính toán khối lượng giá trị thặng dư, chúng ta cần sử dụng công thức phù hợp. Trong các lựa chọn trên, công thức M = m' * V là chính xác. Trong đó, m' là số giờ lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa, V là giá trị hàng hóa. Công thức này cho phép chúng ta xác định được khối lượng giá trị thặng dư trong một sản xuất cụ thể. Điều này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cơ chế sản xuất và phân phối giá trị trong nền kinh tế.
Mở trang câu hỏi này →
178Tính chất của tư bản bất biến (c) là:3 lựa chọnKhó20% trả lời đúng
AGiá trị của nó không thay đổi về lượng và được chuyển nguyên vẹn sang sản phẩm
BGiá trị của nó không thay đổi và được chuyển ngay sang sản phẩm sau một chu kỳ sản xuất
CGiá trị của nó chuyển dần vào sản phẩm qua khấu hao
Lời giải
Tư bản bất biến là một loại tư bản được sử dụng để sản xuất hàng hóa và dịch vụ, nhưng giá trị của nó không thay đổi về lượng và được chuyển nguyên vẹn sang sản phẩm. Điều này có nghĩa là giá trị của tư bản bất biến không bị giảm đi trong quá trình sản xuất, mà ngược lại, nó được chuyển hoàn toàn vào sản phẩm được tạo ra. Ví dụ, một máy móc được sử dụng để sản xuất hàng hóa sẽ giữ nguyên giá trị của nó, nhưng giá trị đó sẽ được chuyển vào hàng hóa được sản xuất. Tư bản bất biến thường bao gồm các tài sản cố định như máy móc, thiết bị, và bất động sản.
Mở trang câu hỏi này →
179Tiền công trong chủ nghĩa tư bản có mấy hình thức?4 lựa chọnDễ76% trả lời đúng
AHai hình thức
BBa hình thức
CBốn hình thức
DMột hình thức
Lời giải
Trong chủ nghĩa tư bản, tiền công được chia thành hai hình thức chính. Thứ nhất là tiền công theo giờ, trong đó người lao động được trả tiền dựa trên số giờ làm việc. Thứ hai là tiền công theo sản phẩm, trong đó người lao động được trả tiền dựa trên số lượng sản phẩm họ tạo ra. Ngoài ra, còn có một số hình thức tiền công khác như tiền công theo sản lượng, tiền công theo hiệu suất, nhưng hai hình thức chính vẫn là tiền công theo giờ và tiền công theo sản phẩm. Điều này cho thấy rằng tiền công trong chủ nghĩa tư bản có hai hình thức cơ bản.
Mở trang câu hỏi này →
180Giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức:4 lựa chọnTrung bình60% trả lời đúng
ABiến tướng của giá trị thặng dư tuyệt đối
BBiến tướng của giá trị thặng dư tương đối
CBiến tướng của giá trị thặng dư cố định
DBiến tướng của giá trị thặng dư lưu động
Lời giải
Giá trị thặng dư siêu ngạch là một khái niệm quan trọng trong kinh tế học, đặc biệt là trong lĩnh vực giá trị lao động. Giá trị thặng dư siêu ngạch được định nghĩa là sự chênh lệch giữa giá trị lao động tạo ra và giá trị lao động được trả cho người lao động. Đây là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối, vì nó phụ thuộc vào sự chênh lệch giữa giá trị lao động tạo ra và giá trị lao động được trả cho người lao động trong một khoảng thời gian nhất định. Giá trị thặng dư siêu ngạch có thể được đo lường bằng cách so sánh giá trị lao động tạo ra và giá trị lao động được trả cho người lao động trong một khoảng thời gian nhất định. Nói một cách khác, giá trị thặng dư siêu ngạch là sự chênh lệch giữa giá trị lao động tạo ra và giá trị lao động được trả cho người lao động trong một khoảng thời gian nhất định.
Mở trang câu hỏi này →
ACấu tạo hữu cơ của tư bản tăng lên trong quá trình tích lũy
BQuan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa
CLợi nhuận của các nhà tư bản
DKhủng hoảng kinh tế
Lời giải
Nạn thất nghiệp trong chủ nghĩa tư bản thường được giải thích bởi sự thay đổi trong cấu trúc hữu cơ của tư bản. Khi các doanh nghiệp tích lũy và mở rộng quy mô, họ thường phải loại bỏ những người lao động không cần thiết hoặc không có kỹ năng để tối ưu hóa lợi nhuận. Điều này dẫn đến sự gia tăng tỷ lệ thất nghiệp, đặc biệt là trong những ngành công nghiệp đang trải qua quá trình tự động hóa. Ngoài ra, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp tư bản cũng có thể dẫn đến việc giảm nhu cầu lao động, làm tăng tỷ lệ thất nghiệp. Vì vậy, nguyên nhân trực tiếp gây ra nạn thất nghiệp trong chủ nghĩa tư bản là cấu tạo hữu cơ của tư bản tăng lên trong quá trình tích lũy.
Mở trang câu hỏi này →
AW = 120000 USD
BW = 110000 USD
CW = 115000 USD
DW = 100000 USD
Lời giải
Để tính giá trị của 1000 đôi dép, chúng ta cần tính tổng chi phí sản xuất. Công ty đầu tư 100000 USD cho nguyên liệu, vật liệu và 5000 USD cho hao mòn máy móc. Tổng chi phí cho nguyên liệu và vật liệu là 100000 + 5000 = 105000 USD. Ngoài ra, công ty còn trả 5000 USD cho công nhân. Tuy nhiên, trình độ bóc lột đạt 200%, tức là công ty phải trả 200% số tiền cho công nhân. Do đó, chi phí cho công nhân là 5000 * 3 = 15000 USD. Tổng chi phí sản xuất là 105000 + 5000 + 15000 = 160000 USD. Giá trị của 1000 đôi dép công ty sản xuất ra là 160000 USD.
Mở trang câu hỏi này →
183Theo công thức chung của tư bản thì T' được tính như thế nào?4 lựa chọnDễ100% trả lời đúng
AT' = T + t (t>0)
BT' = T + t (t<0)
CT' = T + t (t>=0)
DT' = T + t (t<=0)
Lời giải
Theo công thức chung của tư bản, T' được tính bằng cách cộng thêm thời gian t vào thời gian T, với điều kiện t phải lớn hơn 0. Điều này có nghĩa là khi tính toán thời gian T', chúng ta phải đảm bảo rằng thời gian t được thêm vào là một thời gian dương. Điều này có thể được biểu diễn bằng công thức T' = T + t (t > 0). Công thức này cho thấy rằng thời gian T' được tính bằng cách cộng thêm thời gian t vào thời gian T, và thời gian t phải là một thời gian dương.
Mở trang câu hỏi này →
184Địa tô tuyệt đối được hiểu là gì?4 lựa chọnTrung bình50% trả lời đúng
ALoại địa tô mà tất cả các nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp đều phải nộp cho địa chủ, cho dù ruộng đất là tốt hay xấu
BPhần giá trị thặng dư còn lại sau khi đã khấu trừ đi phần lợi nhuận bình quân mà các nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải nộp cho địa chủ
CLợi nhuận siêu ngạch dưới dạng ngoài lợi nhuận bình quân
DGiá đất ngoài thị trường
Lời giải
Địa tô tuyệt đối là loại thuế mà tất cả các nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp đều phải nộp cho địa chủ, cho dù ruộng đất là tốt hay xấu. Điều này có nghĩa là bất kể ruộng đất có sản lượng cao hay thấp, các nhà tư bản vẫn phải nộp một khoản tiền cố định cho địa chủ. Địa tô tuyệt đối thường được hiểu là khoản tiền mà các nhà tư bản phải trả cho việc sử dụng đất đai, và nó không phụ thuộc vào sản lượng của ruộng đất. Điều này khác với địa tô tương đối, nơi mà khoản tiền mà các nhà tư bản phải trả cho địa chủ phụ thuộc vào sản lượng của ruộng đất.
Mở trang câu hỏi này →