Đáp án đúng: A. Quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản chi phối sự thay thế của các phương thức sản xuất trong lịch sử. Chủ nghĩa tư bản đã tạo ra lực lượng sản xuất phát triển chưa từng có, nhưng chính sự phát triển đó ngày càng mang tính xã hội hoá cao độ, mâu thuẫn gay gắt với quan hệ sản xuất dựa trên chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Từ đó chủ nghĩa Mác - Lênin kết luận chủ nghĩa tư bản không phải là hình thái vĩnh viễn mà tất yếu bị thay thế. Tuy vậy kết luận này không đồng nghĩa với việc nó sẽ diệt vong trong thời gian ngắn (C): chủ nghĩa tư bản vẫn còn khả năng tự điều chỉnh để thích nghi, nên B và D đều không phải điều mà quy luật trên khẳng định.
Ngân hàng câu hỏi môn Kinh tế chính trị Mác - Lênin
Kinh tế chính trị Mác - Lênin (mã môn MLN122) là môn khoa học nghiên cứu quan hệ sản xuất và các quy luật kinh tế chi phối sự vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và thời kỳ quá độ. Ôn tập theo giáo trình 2021 với 6 chương — hàng hóa và tiền tệ, giá trị thặng dư, tích lũy tư bản, cạnh tranh và độc quyền, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế — kèm ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm có đáp án và lời giải chi tiết.
Bắt đầu một phiên học theo môn
Tiến độ của bạn sẽ luôn được tính toán và đồng bộ trực tiếp theo tổng số lượng câu hỏi mới nhất của môn học này.
Bạn cần đăng nhập để bắt đầu học từ ngân hàng câu hỏi và lưu tiến độ theo môn.
Đang tải phân bố độ khó.
Đáp án đúng: A và C. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trước hết vẫn là một nền kinh tế thị trường đầy đủ, nghĩa là vận hành theo các quy luật khách quan của thị trường: quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh (phương án A). Điểm khác biệt nằm ở phần "định hướng": nền kinh tế đó có sự quản lý, điều tiết của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm gắn tăng trưởng với tiến bộ và công bằng xã hội (phương án C). Phương án B phủ nhận vai trò điều tiết của Nhà nước nên trái với bản chất mô hình; phương án D sai vì nền kinh tế nước ta là nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo chứ không phải là thành phần duy nhất.
Đáp án đúng: C. Cả hai nhận định A và B đều đúng nên phương án gộp là câu trả lời. Giá trị - hao phí lao động xã hội cần thiết kết tinh trong hàng hoá - là cơ sở, là nội dung bên trong quyết định giá cả; giá cả chỉ là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị. Đồng thời, trên thị trường giá cả còn lên xuống xoay quanh giá trị dưới tác động của quan hệ cung - cầu, của cạnh tranh và của chính sức mua của đồng tiền. Hai mệnh đề này không mâu thuẫn mà bổ sung cho nhau: một bên nói về cái quyết định lâu dài, một bên nói về các nhân tố làm giá cả dao động ngắn hạn. Vì vậy D "cả A và B đều sai" là phương án loại trừ.
Đáp án đúng: C. Cường độ lao động là mức độ khẩn trương, nặng nhọc của lao động trong một đơn vị thời gian. Tăng cường độ lao động thực chất là kéo dài ngày lao động một cách trá hình: người công nhân hao phí nhiều sức hơn nên làm ra nhiều sản phẩm hơn, do đó tổng số lượng hàng hoá sản xuất ra tăng lên và tổng lượng giá trị tạo ra cũng tăng theo. Tuy nhiên hao phí lao động kết tinh trong MỖI đơn vị hàng hoá vẫn không đổi, nên giá trị của một đơn vị hàng hoá không đổi - đây chính là điểm phân biệt với tăng năng suất lao động, vốn làm giảm giá trị mỗi đơn vị hàng hoá. Vì thế A sai, B sai (sức lao động tiêu hao tăng chứ không giảm) và D nhầm sang phạm trù năng suất.
Đáp án đúng: C. Kinh tế chính trị Mác - Lênin có bốn chức năng: chức năng nhận thức (cung cấp tri thức về bản chất và quy luật vận động của các quan hệ sản xuất - trao đổi), chức năng thực tiễn (làm cơ sở cho hoạt động kinh tế và hoạch định chính sách), chức năng phương pháp luận (làm nền tảng lý luận cho các khoa học kinh tế ngành) và chức năng tư tưởng (góp phần xây dựng thế giới quan, lập trường giai cấp). Phương án A thay "thực tiễn" bằng "nghiên cứu" - vốn là phương pháp chứ không phải chức năng; phương án B thay "tư tưởng" bằng "cơ sở lý luận" vốn trùng nghĩa với phương pháp luận; phương án D bỏ mất phương pháp luận và thêm "tư duy" không có trong hệ thống bốn chức năng.
Đáp án đúng: A. Chế độ tham dự là cơ chế để một nhóm nhỏ tư bản tài chính khống chế một hệ thống doanh nghiệp khổng lồ. Nhà tư bản tài chính mua đủ số cổ phiếu khống chế của "công ty mẹ", nhờ đó chi phối được công ty mẹ; công ty mẹ lại nắm cổ phiếu khống chế của các "công ty con", công ty con nắm "công ty cháu"... Qua nhiều tầng như vậy, một lượng vốn ban đầu tương đối nhỏ có thể điều khiển một khối lượng tư bản lớn gấp nhiều lần. Lợi nhuận (B) và lợi tức (C) chỉ là kết quả thu được chứ không phải công cụ thiết lập quyền chi phối; quyền lực chính trị (D) tuy có liên hệ với tư bản tài chính nhưng không phải là cách chế độ tham dự được xác lập về mặt sở hữu.
Đáp án đúng: B và C. Mục tiêu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, hướng tới "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" (phương án B) và sử dụng thị trường như cơ chế phân bổ nguồn lực hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả (phương án C). Phương án A sai vì đặc trưng cốt lõi của mô hình này là tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển, không tách rời. Phương án D sai vì Nhà nước giữ vai trò quản lý, định hướng và điều tiết bằng công cụ kinh tế chứ không phải can thiệp hành chính ngày càng sâu vào hoạt động của doanh nghiệp.
Đáp án đúng: A. Trong kinh tế chính trị Mác - Lênin, cung là khối lượng hàng hoá, dịch vụ đang có trên thị trường hoặc có khả năng thực tế được đưa ra thị trường để đáp ứng nhu cầu có khả năng thanh toán, ứng với một mức giá nhất định. Điểm mấu chốt là hai điều kiện: phải là hàng hoá (được sản xuất để bán) và phải có khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường. Phương án B quá rộng vì nhiều sản phẩm của lao động không được đem bán nên không nằm trong cung; phương án C thu hẹp sai vào "một số sản phẩm nhất định"; phương án D lại giới hạn theo cách thức sản xuất bằng máy móc, trong khi nguồn gốc công nghệ của sản phẩm không liên quan gì đến phạm trù cung.
Đáp án đúng: A. Khủng hoảng thừa trong chủ nghĩa tư bản là thừa một cách TƯƠNG ĐỐI, tức là hàng hoá thừa so với sức mua có khả năng thanh toán của xã hội, chứ không phải thừa so với nhu cầu thực tế. Đây chính là nghịch lý kinh điển mà C. Mác chỉ ra: hàng hoá chất đống trong kho không bán được trong khi người lao động vẫn thiếu thốn, vì họ không có tiền để mua. Nguyên nhân sâu xa là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá của sản xuất với hình thức chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Vì vậy phương án B sai ở chỗ lấy "nhu cầu xã hội" làm mốc so sánh; C và D lại mô tả tình trạng thiếu hụt, ngược hẳn bản chất của khủng hoảng thừa.
Đáp án đúng: A. Đại hội đảng V (tháng 3/1982) là đại hội đầu tiên chính thức nêu ra sự cần thiết phải đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. Trước sức ép của khủng hoảng kinh tế - xã hội cuối thập niên 1970, Đảng thừa nhận cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp đã bộc lộ nhiều khuyết tật và đặt vấn đề phải sửa đổi. Đây mới là bước dò đường: Đại hội V chưa từ bỏ mô hình cũ mà chỉ điều chỉnh trong khuôn khổ của nó. Phải đến Đại hội VI (12/1986) đường lối đổi mới toàn diện mới được xác lập, chuyển hẳn sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Vì vậy các đại hội VI, VII, VIII đều không phải là nơi vấn đề được "đề cập" lần đầu.
Hoàn thiện hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách cho hoạt động và phát triển lành mạnh của thị trường chứng khoán, tăng tính minh bạch chống các giao dịch phi pháp, các hành vi lừa tiền là thuộc về việc hoàn thiện thể chế đảm bảo đồng bộ các yếu tố thị trường và phát triển đồng bộ các loại thị trường. Điều này có nghĩa là cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của thị trường chứng khoán, đồng thời tăng cường tính minh bạch và ngăn chặn các hành vi bất hợp pháp. Việc này đòi hỏi sự đồng bộ và hoàn thiện của các yếu tố thị trường, bao gồm cả thị trường chứng khoán, thị trường tài chính và thị trường sản phẩm.
Việc mua bán sức lao động và mua bán nô lệ khác nhau ở nhiều đặc điểm. Mua bán nô lệ là hành vi mua bán con người, khiến họ trở thành tài sản của người khác. Trong khi đó, mua bán sức lao động là hành vi mua bán khả năng lao động của con người, cho phép người lao động tự do lựa chọn nơi làm việc và được trả lương phù hợp. Tuy nhiên, cả hai hành vi đều vi phạm quyền con người và được coi là hình thức bóc lột. Vì vậy, không có đặc điểm nào khác biệt rõ ràng giữa mua bán sức lao động và mua bán nô lệ.
Lượng giá trị hàng hoá tỉ lệ nghịch với năng xuất lao động là một nhận xét đúng. Khi năng xuất lao động tăng lên, lượng giá trị hàng hoá tạo ra sẽ giảm xuống. Điều này có nghĩa là khi lao động trở nên hiệu quả hơn, giá trị hàng hoá tạo ra sẽ giảm đi. Ngược lại, khi năng xuất lao động giảm xuống, lượng giá trị hàng hoá tạo ra sẽ tăng lên. Điều này cho thấy rằng giá trị hàng hoá không chỉ phụ thuộc vào lao động mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như công nghệ, thiết bị và quản lý. Vì vậy, nhận xét này là đúng và phản ánh đúng quan điểm của Karl Marx về giá trị hàng hoá.
Trong nền kinh tế thị trường, thị trường đóng vai trò quan trọng trong việc phân bổ các nguồn lực kinh tế một cách hiệu quả. Thị trường là nơi các doanh nghiệp và cá nhân trao đổi hàng hóa và dịch vụ, nơi mà giá cả và cung cầu quyết định phân bổ nguồn lực. Khi giá cả cao, các doanh nghiệp sẽ sản xuất nhiều hơn để đáp ứng nhu cầu, trong khi khi giá cả thấp, họ sẽ sản xuất ít hơn. Điều này giúp phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả, đảm bảo rằng nguồn lực được sử dụng đúng chỗ và đúng lúc. Ngoài ra, thị trường còn giúp phân biệt giữa các ngành và lĩnh vực khác nhau, giúp các doanh nghiệp tập trung vào lĩnh vực có tiềm năng cao nhất.
Thời gian lao động xã hội cần thiết là khoảng thời gian mà một người lao động cần phải làm việc để sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó trong điều kiện bình thường của xã hội. Điều kiện bình thường này bao gồm trình độ thành thạo trung bình, cường độ lao động trung bình và các yếu tố khác như công nghệ, nguyên liệu, thiết bị. Thời gian lao động xã hội cần thiết không phụ thuộc vào trình độ chuyên môn cao hay thấp của người lao động, mà chỉ phụ thuộc vào khả năng lao động trung bình của người lao động. Điều này có nghĩa là, một người lao động có trình độ chuyên môn cao cũng cần phải làm việc trong khoảng thời gian này để sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó. Thời gian lao động xã hội cần thiết là một khái niệm quan trọng trong kinh tế học, giúp chúng ta hiểu được giá trị của hàng hóa và dịch vụ trong xã hội.