MLN122Trung bìnhKỳ 8Đại cương Cập nhật 17 giờ trước

Kinh tế chính trị Mác - Lênin

MLN122 - Kinh tế chính trị Mác - Lênin là môn thuộc khối lý luận chính trị trong chương trình đại cương bậc cử nhân của Đại học FPT. Môn đi tìm lời đáp cho một câu hỏi cũ mà chưa bao giờ hết thời sự: của cải trong một xã hội được làm ra bằng cách nào, rồi chia cho ai theo luật lệ nào, và vì sao cách chia ấy lại thay đổi qua từng thời kỳ. Khác với những môn kinh tế chỉ mô tả giá cả và sản lượng, ở đây đối tượng là quan hệ giữa người với người ẩn sau các con số: ai nắm tư liệu sản xuất, ai phải bán sức lao động, phần dôi ra thuộc về bên nào. Điểm xuất phát là hàng hóa, tế bào của nền kinh tế thị trường, với hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng cùng tính hai mặt của lao động sản xuất ra nó; từ đó mới hiểu được vì sao thời gian lao động xã hội cần thiết quyết định lượng giá trị, vì sao tiền tệ ra đời, và quy luật giá trị điều tiết sản xuất theo cơ chế nào. Mạch thứ hai là giá trị thặng dư: sức lao động trở thành hàng hóa trong điều kiện nào, vì sao chỉ riêng nó tạo ra lượng giá trị lớn hơn giá trị bản thân, hai con đường kéo dài ngày lao động và tăng năng suất xã hội khác nhau ra sao, rồi lợi nhuận, lợi tức và địa tô che giấu nguồn gốc ấy bằng cách nào. Xuyên suốt cả hai mạch, công cụ làm việc là trừu tượng hóa khoa học, bởi quan hệ kinh tế không đem vào phòng thí nghiệm được mà phải gạt cái ngẫu nhiên để giữ lấy cái bản chất. Mạch thứ ba theo dấu sự vận động của chính nền kinh tế đó: cạnh tranh tự do dẫn tới tích tụ và tập trung sản xuất, độc quyền hình thành rồi kết hợp với sức mạnh nhà nước, đồng thời bộc lộ những biểu hiện mới của thời nay. Hai mạch cuối hướng hẳn về Việt Nam. Một bên là con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cùng những được và mất của hội nhập kinh tế quốc tế. Bên kia là mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo quy luật thị trường nhưng có sự quản lý của Nhà nước, nơi các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội phải được đặt hài hòa với nhau. Lợi ích: người học đọc được tin tức kinh tế ở tầng sâu hơn con số, hiểu vì sao giá cả lên xuống quanh giá trị chứ không trùng với nó, phân biệt được những cặp rất dễ nhầm khi làm bài trắc nghiệm như giá trị với giá cả, lao động cụ thể với lao động trừu tượng, tư bản bất biến với tư bản cố định, giá trị thặng dư tuyệt đối với tương đối, tích tụ với tập trung tư bản. Ngân hàng câu hỏi của môn kèm lời giải nêu rõ đáp án đúng dựa vào căn cứ nào và từng phương án còn lại sai ở chỗ nào, nên dùng được cả để ôn thi lẫn để tự rà lại chỗ mình đang hiểu lệch.

661Câu hỏi
9Bộ đề
6Chủ đề
5,03 đánh giá

Câu hỏi của môn

84/661 câuCòn 577
AVì lao động sản xuất hàng hóa có tính hai mặt là: lao động cụ thể và lao động trừu tượng
BVì có lao động giản đơn và lao động phức tạp
CVì có lao động quá khứ và lao động sống
DVì nhu cầu trong trao đổi hàng hóa
Lời giải
Hàng hóa có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng vì lao động sản xuất hàng hóa có tính hai mặt là lao động cụ thể và lao động trừu tượng. Lao động cụ thể là lao động được sử dụng để tạo ra một sản phẩm cụ thể, trong khi lao động trừu tượng là lao động được sử dụng để tạo ra một giá trị chung có thể được trao đổi với các sản phẩm khác. Điều này cho phép hàng hóa có giá trị và giá trị sử dụng, vì chúng có thể được sử dụng để thỏa mãn nhu cầu của con người và cũng có thể được trao đổi để lấy các sản phẩm khác. Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa là cơ sở cho giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa.
Mở trang câu hỏi này →
66Giá trị của hàng hoá được tạo ra từ yếu tố nào?4 lựa chọnDễ71% trả lời đúng
ALao động trừu tượng
BLao động cụ thể
CGiá tiền cao thấp
DTùy vào công dụng của hàng hoá đó
Lời giải
Giá trị của hàng hóa được tạo ra từ lao động trừu tượng, theo quan điểm của Karl Marx. Lao động trừu tượng là lao động được thực hiện để tạo ra giá trị chung, không phải là lao động cụ thể để tạo ra một sản phẩm cụ thể. Lao động trừu tượng bao gồm các hoạt động như quản lý, tổ chức, thiết kế, và các hoạt động khác không liên quan trực tiếp đến việc sản xuất hàng hóa. Giá trị của hàng hóa được tạo ra từ lao động trừu tượng được thể hiện qua thời gian lao động cần thiết để sản xuất hàng hóa đó. Điều này có nghĩa là giá trị của hàng hóa được xác định bởi thời gian lao động cần thiết để sản xuất hàng hóa đó, chứ không phải bởi giá tiền cao thấp hoặc tùy vào công dụng của hàng hóa đó.
Mở trang câu hỏi này →
67Cạnh tranh trong nội bộ ngành dẫn đến hình thành điều gì?4 lựa chọnTrung bình55% trả lời đúng
AGiá cả sản xuất
BGiá trị thị trường
CGiá cả hàng hóa
DGiá trị thặng dư
Lời giải
Cạnh tranh trong nội bộ ngành là quá trình mà các doanh nghiệp trong cùng một ngành sản xuất hàng hóa, dịch vụ cạnh tranh với nhau để giành thị phần trên thị trường. Điều này dẫn đến hình thành giá trị thị trường, bởi vì các doanh nghiệp phải điều chỉnh giá cả sản phẩm của mình để thu hút khách hàng và tăng cường cạnh tranh. Giá trị thị trường là giá mà khách hàng sẵn sàng trả cho sản phẩm hoặc dịch vụ, và nó phản ánh giá trị thực tế của sản phẩm hoặc dịch vụ trên thị trường. Trong cạnh tranh nội bộ ngành, giá trị thị trường được hình thành thông qua quá trình tương tác giữa các doanh nghiệp và khách hàng, và nó có thể thay đổi theo thời gian dựa trên các yếu tố như nhu cầu thị trường, cung cấp sản phẩm và dịch vụ, và chiến lược cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Mở trang câu hỏi này →
ATiền quy ước
BTiền tường trưng
CTiền ghi nợ
DTiền vàng
Lời giải
Tiền trưng bày hay còn được gọi là tiền tượng trưng là loại tiền được hiểu là phương tiện thanh toán mà giá trị hay sức mua của nó vượt xa chi phí sản xuất ra nó hay giá trị của nó khi dùng vào việc khác. Nó không được sử dụng như một phương tiện thanh toán thực tế mà chỉ được sử dụng để thể hiện giá trị hoặc để mục đích khác. Ví dụ, một số quốc gia có thể sử dụng tiền giấy hoặc tiền điện tử để thể hiện giá trị hoặc để mục đích lưu trữ giá trị mà không cần sử dụng chúng như phương tiện thanh toán. Trong trường hợp này, tiền trưng bày không phải là phương tiện thanh toán thực tế mà chỉ là một biểu tượng của giá trị.
Mở trang câu hỏi này →
ANgười bán và người mua, phân bổ nguồn lực kinh tế đạt được hiệu quả xã hội lớn nhất mà không cần sự can thiệp của chính phủ
BMỗi cá nhân của cơ chế thị trường trong việc điều chỉnh cung cầu trên thị trường.
CCác cá nhân tham gia muốn tối đa hoá lợi nhuận cho mình
DMọi người đều bị bàn tay vô hình dẫn tới kết quả làm lợi cho chính mình
Lời giải
Lý thuyết bàn tay vô hình của Adam Smith được hiểu là một khái niệm kinh tế học mô tả cách thức mà các cá nhân trong một nền kinh tế thị trường tự động đạt được hiệu quả xã hội tối đa mà không cần sự can thiệp của chính phủ. Theo lý thuyết này, mỗi cá nhân trong thị trường kinh tế đều có mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho bản thân. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện mục tiêu này, họ không chỉ đạt được lợi ích cho riêng mình mà còn tạo ra hiệu quả xã hội lớn hơn. Điều này xảy ra khi người bán và người mua phân bổ nguồn lực kinh tế một cách hiệu quả, điều chỉnh cung cầu trên thị trường và tạo ra sự cân bằng giữa cung và cầu. Kết quả cuối cùng là mọi người đều bị ảnh hưởng bởi 'bàn tay vô hình' này, dẫn đến kết quả làm lợi cho chính mình mà không cần sự can thiệp của chính phủ.
Mở trang câu hỏi này →
ATùy theo trường hợp cụ thể mà năng suất lao động có thể làm tăng hoặc giảm lượng giá trị trong 1 đơn vị hàng hoá
BNăng suất lao động tăng thì lượng giá trị hàng hoá trong 1 đơn vị hàng hoá sẽ giảm
CNăng suất lao động tăng thì lượng giá trị trong 1 đơn vị hàng hoá sẽ tăng
DNăng suất lao động không làm thay đổi lượng giá trị trong 1 đơn vị hàng hoá
Lời giải
Năng suất lao động là mức độ hiệu quả của lao động trong quá trình sản xuất hàng hóa. Khi năng suất lao động tăng, lao động có thể sản xuất được nhiều hàng hóa hơn trong cùng một thời gian. Điều này có nghĩa là giá trị hàng hóa trong một đơn vị sẽ giảm xuống. Ví dụ, nếu một công nhân có thể sản xuất được 100 chiếc áo trong một ngày, thì khi năng suất lao động tăng lên, họ có thể sản xuất được 120 chiếc áo trong cùng một ngày. Điều này làm giảm giá trị của mỗi chiếc áo, vì giá trị của nó được đo bằng số lượng áo mà một công nhân có thể sản xuất được trong một đơn vị thời gian. Vì vậy, năng suất lao động tăng sẽ dẫn đến giảm giá trị của hàng hóa trong một đơn vị.
Mở trang câu hỏi này →
AGiá trị sử dụng của hàng hóa
BLao động phức tạp của sản xuất hàng hóa
CGiá trị - lao động
DTính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa
Lời giải
Karl Marx đã tạo ra bước nhảy vọt về lý luận khoa học so với David Ricardo khi phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa. Tính hai mặt này bao gồm cả khía cạnh tích cực và tiêu cực của lao động, giúp giải thích tại sao giá trị hàng hóa lại cao hơn giá trị sử dụng. Điều này giúp Marx giải thích được nguyên nhân của sự đối lập giữa giá trị và giá trị sử dụng, và từ đó xây dựng nên lý thuyết giá trị lao động của mình. Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa cũng giúp Marx giải thích được sự hình thành và phát triển của xã hội giai cấp, và từ đó đề xuất giải pháp cho sự giải phóng giai cấp.
Mở trang câu hỏi này →
72C.Mác gọi hàng hoá nào là tư bản giả?4 lựa chọnTrung bình60% trả lời đúng
AThương hiệu, danh tiếng
BChứng khoán, chứng quyền
CDịch vụ
DQuyền sử dụng đất
Lời giải
C.Mác định nghĩa tư bản giả là những hình thức biểu hiện của tư bản mà không phải là tư bản thực sự. Trong câu hỏi này, C.Mác gọi hàng hoá nào là tư bản giả? Các lựa chọn bao gồm thương hiệu, danh tiếng, chứng khoán, chứng quyền, dịch vụ và quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, theo quan điểm của C.Mác, tư bản giả thường được liên hệ với các hình thức biểu hiện của tư bản mà không phải là tư bản thực sự. Trong trường hợp này, chứng khoán và chứng quyền được coi là tư bản giả vì chúng chỉ là biểu hiện của quyền sở hữu tài sản chứ không phải là tài sản thực sự.
Mở trang câu hỏi này →
73Thị trường có sự tham gia của nhà nước được gọi là gì?4 lựa chọnTrung bình69% trả lời đúng
AThị trường có điều tiết
BThị trường tự do
CThị trường cạnh tranh hoàn hảo
DThị trường cạnh tranh không hoàn hảo
Lời giải
Thị trường có sự tham gia của nhà nước được gọi là Thị trường có điều tiết. Thị trường có điều tiết là loại thị trường trong đó nhà nước tham gia và can thiệp vào hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Điều này có thể bao gồm việc quy định giá cả, sản lượng, hoặc các điều kiện kinh doanh khác. Thị trường có điều tiết thường được sử dụng để đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội như đảm bảo an ninh lương thực, kiểm soát lạm phát, hoặc phát triển kinh tế vùng xa. Tuy nhiên, thị trường có điều tiết cũng có thể hạn chế sự cạnh tranh và dẫn đến sự bất công trong thị trường.
Mở trang câu hỏi này →
74Giáo dục, y tế, nhà ở thuộc loại hàng hoá nào?4 lựa chọnKhó22% trả lời đúng
AHàng hoá cá nhân
BĐây không phải là hàng hoá
CHàng hoá khuyến dụng
DHàng hoá công cộng
Lời giải
Giáo dục, y tế, nhà ở được coi là hàng hoá công cộng vì chúng phục vụ lợi ích chung của xã hội. Hàng hoá công cộng không được sản xuất để bán cho người tiêu dùng mà được cung cấp bởi chính phủ hoặc các tổ chức công cộng để đáp ứng nhu cầu của cộng đồng. Ví dụ, trường học, bệnh viện và các cơ sở hạ tầng khác đều là hàng hoá công cộng vì chúng cung cấp dịch vụ thiết yếu cho người dân. Hàng hoá công cộng thường không được sản xuất để tạo ra lợi nhuận mà để đáp ứng nhu cầu của xã hội. Vì vậy, giáo dục, y tế và nhà ở thuộc loại hàng hoá công cộng.
Mở trang câu hỏi này →
AGiá cả vận động ngoài giá trị
BGiá cả bằng giá trị
CGiá cả lớn hơn giá trị
DGiá cả nhỏ hơn giá trị
Lời giải
Khi cung hàng hóa lớn hơn cầu, theo quy luật cung cầu, giá cả hàng hóa sẽ giảm xuống. Điều này xảy ra vì khi cung lớn hơn cầu, người bán phải cạnh tranh với nhau để bán hàng hóa của mình, dẫn đến giá cả giảm. Trong trường hợp này, giá cả hàng hóa sẽ nhỏ hơn giá trị thực tế của nó. Điều này có nghĩa là người bán phải chấp nhận giảm giá để bán hàng hóa của mình, vì họ không thể bán được hàng hóa của mình ở giá cao hơn.
Mở trang câu hỏi này →
76Đặc trưng của hàng hoá dịch vụ là gì?4 lựa chọnDễ80% trả lời đúng
ALà hàng hóa được bày bán trên thị trường
BQuá trình sản xuất đồng thời với quá trình tiêu dùng nó
CLà hàng hóa tồn tại dưới dạng hữu hình
DLà hàng hóa do người nông dân làm ra
Lời giải
Đặc trưng của hàng hoá dịch vụ là quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời. Điều này có nghĩa là hàng hoá dịch vụ không thể tồn tại dưới dạng vật chất như hàng hoá vật chất mà phải được tạo ra và sử dụng cùng một lúc. Ví dụ, khi bạn đi đến một nhà hàng và đặt một món ăn, quá trình sản xuất món ăn (chế biến) và tiêu dùng (ăn) diễn ra đồng thời. Điều này khác biệt với hàng hoá vật chất, nơi mà hàng hoá được sản xuất trước và sau đó được tiêu dùng. Đặc trưng này là một trong những đặc điểm chính phân biệt hàng hoá dịch vụ với hàng hoá vật chất.
Mở trang câu hỏi này →
AKhi hao phí lao động cá biệt bằng hao phí lao động xã hội
BKhi hao phí lao động cá biệt cao hơn hao phí lao động xã hội
CKhi hao phí lao động cá biệt chỉ bằng một nửa hao phí lao động xã hội
DKhi hao phí lao động cá biệt nhỏ hơn hao phí lao động xã hội
Lời giải
Mâu thuẫn giữa lao động cụ thể và lao động trừu tượng xuất hiện khi lao động cụ thể không thể đáp ứng được nhu cầu lao động xã hội. Điều này thường xảy ra khi lao động cá biệt (lao động cụ thể) không tương xứng với lao động xã hội (lao động trừu tượng). Ví dụ, một người nông dân có thể phải lao động nhiều giờ để sản xuất một lượng nhỏ lương thực, trong khi một công nhân trong một nhà máy có thể sản xuất được nhiều sản phẩm hơn trong cùng một khoảng thời gian. Sự chênh lệch này dẫn đến mâu thuẫn giữa lao động cụ thể và lao động trừu tượng.
Mở trang câu hỏi này →
AHình thái chung của giá trị, Hình thái giá trị ngẫu nhiên, Hình thái tiền, Hình thái giá trị đầy đủ
BHình thái giá trị ngẫu nhiên, Hình thái giá trị đầy đủ, Hình thái chung của giá trị, Hình thái tiền
CHình thái giá trị đầy đủ, Hình thái giá trị ngẫu nhiên, Hình thái tiền, Hình thái chung của giá trị
DHình thái tiền, Hình thái giá trị ngẫu nhiên, Hình thái giá trị đầy đủ, Hình thái chung của giá trị
Lời giải
Giá trị là một khái niệm quan trọng trong kinh tế học và được chia thành các hình thái khác nhau tùy thuộc vào trình tự phát triển. Trước hết, chúng ta có hình thái giá trị ngẫu nhiên, đó là hình thái giá trị không có sự liên kết logic giữa các yếu tố. Tiếp theo là hình thái giá trị đầy đủ, nơi mà giá trị được xác định bởi sự liên kết giữa các yếu tố như lao động, nguyên vật liệu và công nghệ. Sau đó là hình thái tiền, nơi mà giá trị được biểu hiện dưới dạng tiền tệ. Cuối cùng, chúng ta có hình thái chung của giá trị, đó là hình thái giá trị cao nhất, nơi mà giá trị được xác định bởi sự cân bằng giữa các yếu tố kinh tế và xã hội. Do đó, trình tự phát triển từ thấp đến cao của các hình thái giá trị là: hình thái giá trị ngẫu nhiên, hình thái giá trị đầy đủ, hình thái chung của giá trị và hình thái tiền.
Mở trang câu hỏi này →
ATìm cách làm cho giá trị cá biệt của mình nhỏ hơn hoặc bằng giá trị xã hội
BTìm cách làm cho giá trị cá biệt của mình cao nhất trên thị trường
CTìm cách làm cho giá trị cá biệt của mình cao hơn giá trị xã hội
DTìm cách giữ nguyên giá trị cá biệt của mình
Lời giải
Theo quy luật giá trị, để tránh không bị phá sản, người sản xuất phải tìm cách làm cho giá trị cá biệt của mình nhỏ hơn hoặc bằng giá trị xã hội. Điều này có nghĩa là họ phải cố gắng sản xuất ra những sản phẩm có giá trị thấp hơn hoặc bằng giá trị mà thị trường sẵn sàng trả. Nếu giá trị cá biệt của sản phẩm cao hơn giá trị xã hội, người sản xuất sẽ không thể bán được sản phẩm và sẽ bị phá sản. Vì vậy, họ phải tìm cách giảm giá trị sản phẩm xuống để bán được sản phẩm và tránh bị phá sản. Điều này thể hiện sự áp lực của quy luật giá trị đối với người sản xuất.
Mở trang câu hỏi này →
80Giá trị của hàng hoá được quyết định bởi:4 lựa chọnDễ89% trả lời đúng
ALao động trừu tượng của người sản xuất kết tinh trong hàng hoá
BSự khan hiếm của hàng hoá
CSự hao phí sức lao động của con người
DSự hao phí lao động cá biệt
Lời giải
Giá trị của hàng hóa được quyết định bởi lao động trừu tượng của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa. Theo quan điểm của Karl Marx, lao động trừu tượng là lao động không được thể hiện trực tiếp trong hàng hóa, mà được thể hiện thông qua quá trình sản xuất. Lao động trừu tượng được kết tinh trong hàng hóa thông qua quá trình sản xuất hàng hóa, trong đó người sản xuất sử dụng lao động của mình để tạo ra hàng hóa. Quá trình này được gọi là quá trình lao động trừu tượng hóa. Giá trị của hàng hóa được quyết định bởi thời gian lao động trừu tượng được sử dụng để sản xuất hàng hóa, cũng như mức độ phức tạp và khó khăn của quá trình sản xuất. Điều này có nghĩa là giá trị của hàng hóa không chỉ phụ thuộc vào số lượng lao động được sử dụng, mà còn phụ thuộc vào chất lượng và hiệu suất của lao động.
Mở trang câu hỏi này →
ASự tách biệt về tổ chức sản xuất
BSự tách biệt về phân phối sản phẩm
CSự tách biệt về quyền sở hữu
DSự tách biệt về vai trò sản xuất
Lời giải
Sự tách biệt về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất xuất hiện dựa trên cơ sở sự khác biệt về quyền sở hữu. Khi một số người có quyền sở hữu các yếu tố sản xuất như đất đai, máy móc, nguyên liệu, họ có thể kiểm soát và quyết định cách sử dụng chúng. Điều này dẫn đến sự phân chia quyền lực và lợi ích trong quá trình sản xuất, tạo ra sự tách biệt về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất.
Mở trang câu hỏi này →
ACó giá trị sử dụng, có giá cả, có thể trao đổi, mua bán nhưng không do hao phí lao động trực tiếp tạo ra
BCó giá trị, có giá cả, có thể trao đổi, mua bán nhưng không do hao phí lao động trực tiếp tạo ra
CCó giá trị sử dụng, có giá trị, có thể trao đổi, mua bán nhưng không do hao phí lao động trực tiếp tạo ra
DCó giá trị, có thể trao đổi, mua bán nhưng không do hao phí lao động trực tiếp tạo ra
Lời giải
Trong nền sản xuất hàng hóa ngày nay, hình thành những hàng hóa có yếu tố khác với hàng hóa thông thường. Đó là hàng hóa có giá trị sử dụng, có giá cả, có thể trao đổi, mua bán nhưng không do hao phí lao động trực tiếp tạo ra. Ví dụ, hàng hóa như đất đai, tài nguyên thiên nhiên, tài sản trí tuệ, v.v. đều không được tạo ra trực tiếp bởi lao động, nhưng vẫn có giá trị sử dụng và có thể được trao đổi, mua bán trên thị trường. Điều này cho thấy rằng, trong nền sản xuất hàng hóa, giá trị của hàng hóa không chỉ phụ thuộc vào lao động trực tiếp tạo ra, mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như giá trị sử dụng, giá cả, khả năng trao đổi và mua bán.
Mở trang câu hỏi này →
83Điểm khác biệt giữa dịch vụ và hàng hóa thông thường đó là?4 lựa chọnTrung bình67% trả lời đúng
ADịch vụ không thể cất trữ
BDịch vụ phục vụ cho người khác
CDịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng
DDịch vụ có tính thời điểm
Lời giải
Dịch vụ và hàng hóa thông thường có nhiều điểm khác biệt. Một trong những điểm khác biệt chính là tính chất lưu trữ. Dịch vụ không thể cất trữ như hàng hóa thông thường. Ví dụ, một dịch vụ tư vấn không thể được lưu trữ trong kho như một sản phẩm vật chất. Điều này là do dịch vụ thường liên quan đến kiến thức, kỹ năng và thời gian của con người. Vì vậy, dịch vụ không thể được lưu trữ và phân phối như hàng hóa. Thay vào đó, dịch vụ thường được cung cấp trực tiếp đến khách hàng thông qua các kênh như điện thoại, email hoặc trực tuyến.
Mở trang câu hỏi này →
ALao động phức tạp là lao động trí tuệ của người lao động có trình độ cao
BLao động phức tạp là lao động trải qua đào tạo, huấn luyện
CTrong cùng một thời gian lao động, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn.
Lời giải
Lao động phức tạp là một khái niệm quan trọng trong lĩnh vực lao động và kinh tế. Nó được định nghĩa là lao động đòi hỏi sự tham gia của trí tuệ, kỹ năng và kỹ năng chuyên môn cao của người lao động. Trong khi lao động giản đơn chỉ cần sự tham gia cơ bản của người lao động, lao động phức tạp đòi hỏi sự đào tạo, huấn luyện và kinh nghiệm chuyên môn. Điều này giúp người lao động có thể thực hiện các công việc phức tạp và tạo ra giá trị cao hơn. Tuy nhiên, câu trả lời sai về lao động phức tạp là "Lao động phức tạp là lao động trí tuệ của người lao động có trình độ cao". Điều này không hoàn toàn chính xác vì lao động phức tạp không chỉ đòi hỏi trình độ cao mà còn đòi hỏi sự tham gia của trí tuệ, kỹ năng và kỹ năng chuyên môn.
Mở trang câu hỏi này →