MLN122Trung bìnhKỳ 8Đại cương Cập nhật 17 giờ trước

Kinh tế chính trị Mác - Lênin

MLN122 - Kinh tế chính trị Mác - Lênin là môn thuộc khối lý luận chính trị trong chương trình đại cương bậc cử nhân của Đại học FPT. Môn đi tìm lời đáp cho một câu hỏi cũ mà chưa bao giờ hết thời sự: của cải trong một xã hội được làm ra bằng cách nào, rồi chia cho ai theo luật lệ nào, và vì sao cách chia ấy lại thay đổi qua từng thời kỳ. Khác với những môn kinh tế chỉ mô tả giá cả và sản lượng, ở đây đối tượng là quan hệ giữa người với người ẩn sau các con số: ai nắm tư liệu sản xuất, ai phải bán sức lao động, phần dôi ra thuộc về bên nào. Điểm xuất phát là hàng hóa, tế bào của nền kinh tế thị trường, với hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng cùng tính hai mặt của lao động sản xuất ra nó; từ đó mới hiểu được vì sao thời gian lao động xã hội cần thiết quyết định lượng giá trị, vì sao tiền tệ ra đời, và quy luật giá trị điều tiết sản xuất theo cơ chế nào. Mạch thứ hai là giá trị thặng dư: sức lao động trở thành hàng hóa trong điều kiện nào, vì sao chỉ riêng nó tạo ra lượng giá trị lớn hơn giá trị bản thân, hai con đường kéo dài ngày lao động và tăng năng suất xã hội khác nhau ra sao, rồi lợi nhuận, lợi tức và địa tô che giấu nguồn gốc ấy bằng cách nào. Xuyên suốt cả hai mạch, công cụ làm việc là trừu tượng hóa khoa học, bởi quan hệ kinh tế không đem vào phòng thí nghiệm được mà phải gạt cái ngẫu nhiên để giữ lấy cái bản chất. Mạch thứ ba theo dấu sự vận động của chính nền kinh tế đó: cạnh tranh tự do dẫn tới tích tụ và tập trung sản xuất, độc quyền hình thành rồi kết hợp với sức mạnh nhà nước, đồng thời bộc lộ những biểu hiện mới của thời nay. Hai mạch cuối hướng hẳn về Việt Nam. Một bên là con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cùng những được và mất của hội nhập kinh tế quốc tế. Bên kia là mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo quy luật thị trường nhưng có sự quản lý của Nhà nước, nơi các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội phải được đặt hài hòa với nhau. Lợi ích: người học đọc được tin tức kinh tế ở tầng sâu hơn con số, hiểu vì sao giá cả lên xuống quanh giá trị chứ không trùng với nó, phân biệt được những cặp rất dễ nhầm khi làm bài trắc nghiệm như giá trị với giá cả, lao động cụ thể với lao động trừu tượng, tư bản bất biến với tư bản cố định, giá trị thặng dư tuyệt đối với tương đối, tích tụ với tập trung tư bản. Ngân hàng câu hỏi của môn kèm lời giải nêu rõ đáp án đúng dựa vào căn cứ nào và từng phương án còn lại sai ở chỗ nào, nên dùng được cả để ôn thi lẫn để tự rà lại chỗ mình đang hiểu lệch.

661Câu hỏi
9Bộ đề
6Chủ đề
5,03 đánh giá

Câu hỏi của môn

624/661 câuCòn 37
AThực hiện giá trị hàng hóa
BPhân bổ tư liệu sản xuất
CĐiều tiết nguồn lực cho sản xuất
DHoạch định chính sách kinh tế
Lời giải
Đáp án đúng: "Hoạch định chính sách kinh tế". Câu hỏi tìm vai trò thị trường KHÔNG làm. Hoạch định chính sách kinh tế là chức năng của NHÀ NƯỚC — nhà nước đặt luật chơi, sửa chữa khuyết tật của thị trường; bản thân thị trường vận hành tự phát qua quan hệ cung cầu và giá cả, không hoạch định được gì. "Thực hiện giá trị hàng hóa" là vai trò cơ bản: chỉ khi bán được trên thị trường thì giá trị hàng hoá mới được xã hội thừa nhận. "Phân bổ tư liệu sản xuất" đúng là vai trò của thị trường: giá cả dẫn nguồn lực chảy tới nơi sinh lợi. "Điều tiết nguồn lực cho sản xuất" cũng vậy, thị trường tự động điều tiết qua tín hiệu giá và lợi nhuận.
Mở trang câu hỏi này →
AĐại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001)
BĐại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986)
CĐại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996)
DĐại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991)
Lời giải
Đáp án đúng: "Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001)". Đại hội IX là nơi lần đầu chính thức xác định kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. "Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986)" khởi xướng đổi mới, thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần, nhưng chưa dùng khái niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. "Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991)" thông qua Cương lĩnh đầu tiên của thời kỳ quá độ, vẫn dùng cách gọi nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. "Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996)" đặt mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cũng chưa nêu mô hình tổng quát nói trên.
Mở trang câu hỏi này →
ANhà nước trực tiếp quản lý toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh
BNhà nước không can thiệp vào nền kinh tế
CNhà nước quản lý vĩ mô thông qua hệ thống pháp luật và công cụ chính sách
DNhà nước chỉ tập trung vào quản lý văn hóa - giáo dục
Lời giải
Đáp án đúng: "Nhà nước quản lý vĩ mô thông qua hệ thống pháp luật và công cụ chính sách". Dù ở quốc gia nào, kinh tế thị trường cũng có khuyết tật — độc quyền, khủng hoảng, phân hoá giàu nghèo, ô nhiễm — nên nhà nước luôn phải quản lý ở tầm vĩ mô bằng pháp luật và các công cụ chính sách như thuế, lãi suất, chi tiêu công. "Nhà nước trực tiếp quản lý toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh" là đặc trưng của mô hình kế hoạch hoá tập trung, không phải kinh tế thị trường. "Nhà nước không can thiệp vào nền kinh tế" là quan niệm của chủ nghĩa tự do cổ điển, đã bị thực tiễn các cuộc khủng hoảng bác bỏ. "Nhà nước chỉ tập trung vào quản lý văn hóa - giáo dục" bỏ mất chức năng kinh tế của nhà nước.
Mở trang câu hỏi này →
ASản xuất hàng hóa nhỏ, kinh tế thị trường sơ khai, kinh tế thị trường hiện đại đan xen
BSản xuất hàng hóa lớn, kinh thế thị trường sơ khai, kinh tế thị trường đan xen
CSản xuất hàng hóa nhỏ, kinh tế thị trường hoàn thiện, kinh tế thị trường hiện đại
DSản xuất hàng hóa lớn, kinh tế thị trường hoàn thiện, kinh tế thị trường hiện đại đan xen
Lời giải
Đáp án đúng: "Sản xuất hàng hóa nhỏ, kinh tế thị trường sơ khai, kinh tế thị trường hiện đại đan xen". Kinh tế thị trường nước ta còn ở trình độ thấp và đang chuyển đổi, nên nhiều cấp độ cùng tồn tại đan xen: sản xuất hàng hoá nhỏ của hộ gia đình, những mảng thị trường còn sơ khai, bên cạnh những khu vực đã hội nhập và hiện đại. Phương án mở đầu bằng "Sản xuất hàng hóa lớn" nói quá trình độ hiện có của nền kinh tế. Hai phương án dùng "kinh tế thị trường hoàn thiện" đều sai: thị trường nước ta mới đang trong quá trình hoàn thiện đồng bộ, chưa thể gọi là đã hoàn thiện.
Mở trang câu hỏi này →
AÝ chí chủ quan của giai cấp thống trị
BTruyền thống văn hoá lâu đời
CTrình độ phát triển của lực lượng sản xuất
DHệ thống pháp luật của nhà nước
Lời giải
Đáp án đúng: "Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất". Sở hữu là một quan hệ kinh tế khách quan; nội dung và hình thức của nó do trình độ lực lượng sản xuất quyết định — công cụ thô sơ thì hợp với sở hữu nhỏ, sản xuất xã hội hoá cao thì đòi hỏi những hình thức sở hữu tương ứng. "Hệ thống pháp luật của nhà nước" chỉ GHI NHẬN và bảo vệ quan hệ sở hữu đã hình thành trong đời sống kinh tế, biến nó thành quyền sở hữu về mặt pháp lý. "Ý chí chủ quan của giai cấp thống trị" là cách giải thích duy tâm; giai cấp thống trị không thể tuỳ tiện đặt ra chế độ sở hữu trái với trình độ sản xuất. "Truyền thống văn hoá lâu đời" có thể ảnh hưởng tới tập quán sở hữu nhưng không quyết định nội dung kinh tế của nó.
Mở trang câu hỏi này →
ACác chủ thể kinh tế có tính độc lập, nghĩa là có quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, lỗ lãi tự chịu
BCác chủ thể kinh tế không có tính độc lập, nghĩa là không có quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, lỗ lãi tự chịu
CCác chủ thể kinh tế có tính độc lập, nghĩa là có quyền quyết định lỗ lãi
DCác chủ thể kinh tế có tính độc lập, nghĩa là có quyền làm bất cứ những gì họ muốn
Lời giải
Đáp án đúng: "Các chủ thể kinh tế có tính độc lập, nghĩa là có quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, lỗ lãi tự chịu". Thị trường chỉ phân bổ được nguồn lực khi các chủ thể thật sự độc lập: tự quyết định sản xuất cái gì, bán cho ai, và tự gánh lấy kết quả lỗ hay lãi. Có chịu trách nhiệm về kết quả thì tín hiệu giá mới buộc họ hành động đúng. Phương án phủ định tính độc lập mô tả nền kinh tế mệnh lệnh, nơi thị trường không còn giữ vai trò phân bổ. Phương án nói chủ thể "có quyền quyết định lỗ lãi" sai về bản chất: lỗ lãi là KẾT QUẢ khách quan do thị trường phán xét, không ai tự quyết định được. Phương án nói chủ thể "có quyền làm bất cứ những gì họ muốn" nhầm độc lập với vô giới hạn; tự chủ vẫn nằm trong khuôn khổ pháp luật.
Mở trang câu hỏi này →
APhát triển kinh tế và công nghiệp phải có sự nhảy vọt và không cần thực hiện tuần tự
BCoi trọng phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, xem đây là nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CPhát triển kinh tế tri thức được dời lại trong giai đoạn sau
DƯu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ.
Lời giải
Đáp án đúng: "Coi trọng phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, xem đây là nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa". Rút ngắn được là nhờ đi tắt về tri thức: tiếp thu thành tựu khoa học công nghệ của nhân loại và nâng chất lượng nguồn nhân lực, chứ không phải bỏ qua các bước đi khách quan. "Phát triển kinh tế và công nghiệp phải có sự nhảy vọt và không cần thực hiện tuần tự" hiểu sai chữ rút ngắn thành duy ý chí; rút ngắn vẫn phải tôn trọng quy luật, chỉ là đi nhanh hơn nhờ lợi thế của nước đi sau. "Phát triển kinh tế tri thức được dời lại trong giai đoạn sau" trái hẳn yêu cầu gắn công nghiệp hoá với kinh tế tri thức ngay từ đầu. "Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ." là chủ trương của một giai đoạn trước, không phải điều kiện để rút ngắn.
Mở trang câu hỏi này →
APhát triển công nghiệp nhẹ
BPhát triển kinh tế tri thức
CPhát triển công nghiệp nặng làm trọng tâm
DPhát triển nông nghiệp truyền thống
Lời giải
Đáp án đúng: "Phát triển kinh tế tri thức". Nước ta công nghiệp hoá trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nên không thể lặp lại con đường tuần tự của các nước đi trước; phải gắn công nghiệp hoá, hiện đại hoá với phát triển kinh tế tri thức để rút ngắn khoảng cách. "Phát triển công nghiệp nhẹ" và "Phát triển công nghiệp nặng làm trọng tâm" đều là cách đặt vấn đề theo cơ cấu ngành của mô hình công nghiệp hoá cổ điển và kiểu Liên Xô, không phải yếu tố đặc trưng của giai đoạn hiện nay. "Phát triển nông nghiệp truyền thống" đi ngược hướng hiện đại hoá; nông nghiệp vẫn quan trọng nhưng phải theo hướng công nghệ cao.
Mở trang câu hỏi này →
ATừ 5 - 10 năm
BTừ 20 - 30 năm
CTừ 40 - 50 năm
DTừ 60 - 80 năm
Lời giải
Đáp án đúng: "Từ 20 - 30 năm". Nhật Bản và các nước công nghiệp hoá mới đi theo con đường rút ngắn: vừa tiếp thu công nghệ từ bên ngoài, vừa đẩy mạnh xuất khẩu, nhờ đó hoàn thành công nghiệp hoá trong khoảng hai tới ba thập niên. "Từ 60 - 80 năm" là khoảng thời gian của mô hình công nghiệp hoá cổ điển ở Anh và các nước Tây Âu, đi tuần tự từ công nghiệp nhẹ sang công nghiệp nặng. "Từ 40 - 50 năm" không ứng với mô hình nào trong cách phân loại này. "Từ 5 - 10 năm" là quá ngắn cho bất kỳ quá trình công nghiệp hoá nào trong lịch sử.
Mở trang câu hỏi này →
ATại Mỹ năm 2011
BTại Đức năm 2011
CTại Anh năm 2012
DTại Pháp năm 2011
Lời giải
Đáp án đúng: "Tại Đức năm 2011". Khái niệm này xuất hiện lần đầu tại Đức năm 2011, trong chương trình công nghiệp của chính phủ Đức nhằm nâng cấp nền sản xuất bằng số hoá và kết nối. "Tại Mỹ năm 2011" và "Tại Pháp năm 2011" đúng năm nhưng sai nơi khởi nguồn. "Tại Anh năm 2012" sai cả nơi lẫn năm; Anh là nơi khởi phát cách mạng công nghiệp LẦN THỨ NHẤT từ thế kỷ XVIII.
Mở trang câu hỏi này →
AThúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất
BThúc đẩy các quan hệ sản xuất mới ra đời
CThúc đẩy hoàn thiện quan hệ sản xuất
DThúc đẩy đổi mới phương thức quản trị phát triển
Lời giải
Đáp án đúng: "Thúc đẩy các quan hệ sản xuất mới ra đời". Câu hỏi tìm phương án SAI. Cách mạng công nghiệp thúc đẩy HOÀN THIỆN quan hệ sản xuất hiện có chứ không tự nó làm ra đời quan hệ sản xuất mới; quan hệ sản xuất mới chỉ ra đời thông qua cách mạng xã hội, khi mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất cũ được giải quyết. "Thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất" là vai trò trực tiếp và rõ nhất: công cụ, công nghệ và trình độ người lao động đều được nâng lên. "Thúc đẩy hoàn thiện quan hệ sản xuất" cũng là một vai trò đúng, vì sản xuất đổi thì quan hệ sở hữu, quản lý và phân phối buộc phải điều chỉnh theo. "Thúc đẩy đổi mới phương thức quản trị phát triển" đúng nốt, thể hiện ở cách nhà nước và doanh nghiệp quản trị dựa trên công nghệ số.
Mở trang câu hỏi này →
AGiao thông vận tải và thông tin liên lạc
BTrí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn
CCơ giới hóa ngành dệt bằng máy hơi nước
DInternet vạn vật (IoT) và in 3D
Lời giải
Đáp án đúng: "Giao thông vận tải và thông tin liên lạc". Cách mạng công nghiệp lần thứ hai cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX gắn với điện và động cơ đốt trong, tạo bước nhảy vọt trong giao thông vận tải — ô tô, máy bay, tàu thuỷ chạy động cơ — và trong thông tin liên lạc với điện tín, điện thoại, vô tuyến điện. "Trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn" cùng "Internet vạn vật (IoT) và in 3D" đều là đặc trưng của cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cách đó hơn một thế kỷ. "Cơ giới hóa ngành dệt bằng máy hơi nước" thuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất.
Mở trang câu hỏi này →
ALà nền kinh tế tập trung vào việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên và sử dụng lực lượng lao động cơ bắp giữ vai trò chủ đạo trong tăng trưởng
BLà nền kinh tế trong đó sản sinh, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với phát triển kinh tế
CLà nền kinh tế tập trung quy hoạch vào các ngành công nghiệp nặng quy mô lớn và duy trì các phương thức sản xuất nông nghiệp truyền thống
DLà nền kinh tế trong đó việc áp dụng máy móc, cải tiến khoa học kỹ thuật vào quy trình sản xuất giữ vai trò thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Lời giải
Đáp án đúng: "Là nền kinh tế trong đó sản sinh, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với phát triển kinh tế". Điểm mấu chốt của định nghĩa là TRI THỨC giữ vai trò quyết định nhất, thể hiện qua cả ba khâu sản sinh, phổ cập và sử dụng. "Là nền kinh tế tập trung vào việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên và sử dụng lực lượng lao động cơ bắp giữ vai trò chủ đạo trong tăng trưởng" mô tả nền kinh tế dựa vào tài nguyên và sức người — trái ngược hẳn. "Là nền kinh tế tập trung quy hoạch vào các ngành công nghiệp nặng quy mô lớn và duy trì các phương thức sản xuất nông nghiệp truyền thống" là mô hình công nghiệp hoá kiểu cũ. "Là nền kinh tế trong đó việc áp dụng máy móc, cải tiến khoa học kỹ thuật vào quy trình sản xuất giữ vai trò thúc đẩy tăng trưởng kinh tế" mới dừng ở mức ỨNG DỤNG kỹ thuật vào sản xuất, đúng với nền kinh tế công nghiệp chứ chưa phải kinh tế tri thức, nơi bản thân tri thức là nguồn lực và sản phẩm chính.
Mở trang câu hỏi này →
ASử dụng năng lượng nước và hơi nước trong sản xuất
BSử dụng năng lượng điện và động cơ điện trong sản xuất
CLiên kết giữa thế giới thực và thế giới ảo dựa trên AI, IoT, big data
DCơ giới hoá ngành dệt may bằng máy hơi nước
Lời giải
Đáp án đúng: "Liên kết giữa thế giới thực và thế giới ảo dựa trên AI, IoT, big data". Đặc trưng của cách mạng công nghiệp lần thứ tư là sự hợp nhất giữa thế giới thực và thế giới ảo thông qua hệ thống thực - ảo, trên nền trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật và dữ liệu lớn. "Sử dụng năng lượng nước và hơi nước trong sản xuất" là đặc trưng của cách mạng công nghiệp lần thứ nhất. "Sử dụng năng lượng điện và động cơ điện trong sản xuất" là đặc trưng của lần thứ hai. "Cơ giới hoá ngành dệt may bằng máy hơi nước" cũng thuộc lần thứ nhất, là ngành khởi đầu ở nước Anh.
Mở trang câu hỏi này →
AHao phí lao động cá biệt của người sản xuất quyết định
BHao phí lao động cá biệt của người sản xuất nhiều hàng hoá quyết định
CHao phí lao động của ngành quyết định
Lời giải
Giá trị cá biệt của hàng hoá là giá trị cụ thể của một sản phẩm cụ thể. Để xác định giá trị cá biệt của hàng hoá, chúng ta cần xem xét hao phí lao động cá biệt của người sản xuất quyết định. Hao phí lao động cá biệt là số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. Nó bao gồm cả lao động trực tiếp và lao động gián tiếp. Khi người sản xuất quyết định sản xuất một sản phẩm, họ sẽ phải tính toán hao phí lao động cá biệt để xác định giá trị của sản phẩm đó. Điều này giúp người sản xuất xác định được giá trị thực tế của sản phẩm và từ đó có thể quyết định giá bán phù hợp.
Mở trang câu hỏi này →
AThời gian sản xuất + thời gian bán hàng.
BThời gian sản xuất + thời gian lưu thông.
CThời gian dự trữ sản xuất + thời gian lưu thông.
DThời gian sản xuất + thời gian tiếp thị.
Lời giải
Thời gian chu chuyển của tư bản được hiểu là khoảng thời gian mà tư bản được sử dụng để sản xuất và lưu thông hàng hóa. Trong quá trình này, tư bản được sử dụng để mua nguyên liệu, lao động và các yếu tố sản xuất khác, sau đó hàng hóa được sản xuất và lưu thông đến tay người tiêu dùng. Thời gian sản xuất là khoảng thời gian mà tư bản được sử dụng để sản xuất hàng hóa, trong khi thời gian lưu thông là khoảng thời gian mà hàng hóa được lưu thông đến tay người tiêu dùng. Vì vậy, thời gian chu chuyển của tư bản được hiểu là thời gian sản xuất cộng với thời gian lưu thông.
Mở trang câu hỏi này →
AQuan trọng đối với sự vận động và phát triển của chủ nghĩa tư bản
BKhông quan trọng đối với sự vận động và phát triển của chủ nghĩa tư bản
CKhông ảnh hưởng gì đến sự vận động và phát triển của chủ nghĩa tư bản
Lời giải
Trong thời đại ngày nay, sở hữu nhà nước ngày càng trở nên quan trọng đối với sự vận động và phát triển của chủ nghĩa tư bản. Sở hữu nhà nước là một hình thức sở hữu kinh tế do nhà nước trực tiếp quản lý và kiểm soát, thường được sử dụng để thực hiện các mục tiêu kinh tế và xã hội quan trọng. Trong chủ nghĩa tư bản, sở hữu nhà nước có thể đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế, đặc biệt là trong các lĩnh vực chiến lược như năng lượng, giao thông vận tải và công nghệ cao. Ngoài ra, sở hữu nhà nước cũng có thể giúp nhà nước kiểm soát và điều tiết thị trường, ngăn chặn sự tập trung tài sản và quyền lực vào tay một số ít người giàu có.
Mở trang câu hỏi này →
ASự đấu tranh ở giữa các chủ thể kinh tế, để giành chi phí tối đa cho mình.
BSự đấu tranh ở giữa các chủ thể kinh tế, để giành lợi ích tối đa cho mình.
CSự đấu tranh ở giữa các chủ thể kinh tế, để giành thị phần tối đa cho mình.
DSự đấu tranh ở giữa các chủ thể kinh tế.
Lời giải
Cạnh tranh kinh tế được hiểu là quá trình đấu tranh giữa các chủ thể kinh tế nhằm giành lợi ích tối đa cho mình. Quá trình này diễn ra trên thị trường, nơi mà các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân tham gia vào việc sản xuất, phân phối và tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ. Mục tiêu của cạnh tranh kinh tế là giành được lợi thế cạnh tranh, tăng cường khả năng cạnh tranh và tối đa hóa lợi nhuận. Quá trình cạnh tranh kinh tế diễn ra liên tục và không ngừng nghỉ, đòi hỏi các chủ thể kinh tế phải liên tục đổi mới, cải tiến và thích nghi với môi trường kinh tế thay đổi.
Mở trang câu hỏi này →
623Tích lũy tư bản dẫn đến3 lựa chọn
AHình thành chủ nghĩa tư bản độc quyền
BHình thành chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước
CHình thành chủ nghĩa tư bản
Lời giải
Tích lũy tư bản là quá trình một số doanh nghiệp hoặc cá nhân tích lũy được nhiều tài sản và vốn hơn so với các doanh nghiệp hoặc cá nhân khác. Quá trình này có thể dẫn đến sự hình thành của các tập đoàn kinh tế lớn, nắm giữ thị trường và ảnh hưởng đến giá cả. Khi tích lũy tư bản diễn ra trong một nền kinh tế tư bản, nó có thể dẫn đến sự hình thành của chủ nghĩa tư bản độc quyền. Chủ nghĩa tư bản độc quyền là một hệ thống kinh tế trong đó một số tập đoàn hoặc doanh nghiệp lớn nắm giữ thị trường và có thể kiểm soát giá cả, sản lượng và các yếu tố kinh tế khác. Điều này có thể dẫn đến sự bất công và hạn chế sự cạnh tranh trong nền kinh tế.
Mở trang câu hỏi này →
ACơ chế thị trường, độc quyền tư nhân và sự can thiệp của nhà nước
BCơ chế thị trường, các nhà tài phiệt và sự điều tiết của nhà nước
CCơ chế thị trường và độc quyền tư nhân
Lời giải
Cơ chế kinh tế của CNTB độc quyền nhà nước được đặc trưng bởi sự kết hợp giữa cơ chế thị trường và độc quyền nhà nước. Trong cơ chế thị trường, các yếu tố như cung và cầu quyết định giá cả và sản lượng hàng hóa. Tuy nhiên, trong trường hợp CNTB độc quyền nhà nước, nhà nước nắm giữ độc quyền về sản xuất và phân phối hàng hóa, điều này có nghĩa là nhà nước có thể kiểm soát giá cả và sản lượng hàng hóa một cách trực tiếp. Sự can thiệp của nhà nước trong cơ chế thị trường giúp đảm bảo rằng hàng hóa được phân phối một cách công bằng và hiệu quả, đồng thời cũng giúp nhà nước có thể thực hiện các chính sách kinh tế xã hội một cách hiệu quả.
Mở trang câu hỏi này →