MLN122Trung bìnhKỳ 8Đại cương Cập nhật 16 giờ trước

Kinh tế chính trị Mác - Lênin

MLN122 - Kinh tế chính trị Mác - Lênin là môn thuộc khối lý luận chính trị trong chương trình đại cương bậc cử nhân của Đại học FPT. Môn đi tìm lời đáp cho một câu hỏi cũ mà chưa bao giờ hết thời sự: của cải trong một xã hội được làm ra bằng cách nào, rồi chia cho ai theo luật lệ nào, và vì sao cách chia ấy lại thay đổi qua từng thời kỳ. Khác với những môn kinh tế chỉ mô tả giá cả và sản lượng, ở đây đối tượng là quan hệ giữa người với người ẩn sau các con số: ai nắm tư liệu sản xuất, ai phải bán sức lao động, phần dôi ra thuộc về bên nào. Điểm xuất phát là hàng hóa, tế bào của nền kinh tế thị trường, với hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng cùng tính hai mặt của lao động sản xuất ra nó; từ đó mới hiểu được vì sao thời gian lao động xã hội cần thiết quyết định lượng giá trị, vì sao tiền tệ ra đời, và quy luật giá trị điều tiết sản xuất theo cơ chế nào. Mạch thứ hai là giá trị thặng dư: sức lao động trở thành hàng hóa trong điều kiện nào, vì sao chỉ riêng nó tạo ra lượng giá trị lớn hơn giá trị bản thân, hai con đường kéo dài ngày lao động và tăng năng suất xã hội khác nhau ra sao, rồi lợi nhuận, lợi tức và địa tô che giấu nguồn gốc ấy bằng cách nào. Xuyên suốt cả hai mạch, công cụ làm việc là trừu tượng hóa khoa học, bởi quan hệ kinh tế không đem vào phòng thí nghiệm được mà phải gạt cái ngẫu nhiên để giữ lấy cái bản chất. Mạch thứ ba theo dấu sự vận động của chính nền kinh tế đó: cạnh tranh tự do dẫn tới tích tụ và tập trung sản xuất, độc quyền hình thành rồi kết hợp với sức mạnh nhà nước, đồng thời bộc lộ những biểu hiện mới của thời nay. Hai mạch cuối hướng hẳn về Việt Nam. Một bên là con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cùng những được và mất của hội nhập kinh tế quốc tế. Bên kia là mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo quy luật thị trường nhưng có sự quản lý của Nhà nước, nơi các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội phải được đặt hài hòa với nhau. Lợi ích: người học đọc được tin tức kinh tế ở tầng sâu hơn con số, hiểu vì sao giá cả lên xuống quanh giá trị chứ không trùng với nó, phân biệt được những cặp rất dễ nhầm khi làm bài trắc nghiệm như giá trị với giá cả, lao động cụ thể với lao động trừu tượng, tư bản bất biến với tư bản cố định, giá trị thặng dư tuyệt đối với tương đối, tích tụ với tập trung tư bản. Ngân hàng câu hỏi của môn kèm lời giải nêu rõ đáp án đúng dựa vào căn cứ nào và từng phương án còn lại sai ở chỗ nào, nên dùng được cả để ôn thi lẫn để tự rà lại chỗ mình đang hiểu lệch.

661Câu hỏi
9Bộ đề
6Chủ đề
5,03 đánh giá

Câu hỏi của môn

644/661 câuCòn 17
ACủng cố vai trò tổ chức độc quyền
BChiếm đoạt giá trị thặng dư của người khác
CGây thiệt hại cho các đối thủ cạnh tranh
Lời giải
Các tổ chức độc quyền sử dụng giá cả độc quyền để chiếm đoạt giá trị thặng dư của người khác. Giá cả độc quyền là một công cụ quan trọng giúp các tổ chức độc quyền đạt được mục tiêu kinh doanh của mình. Khi một tổ chức độc quyền áp dụng giá cả độc quyền, họ thường sẽ tăng giá sản phẩm hoặc dịch vụ lên mức cao hơn so với giá thị trường, nhằm mục đích thu được lợi nhuận cao hơn. Điều này có thể gây thiệt hại cho người tiêu dùng, đặc biệt là những người có thu nhập thấp, vì họ không thể mua được sản phẩm hoặc dịch vụ với giá cao hơn. Ngoài ra, giá cả độc quyền cũng có thể gây thiệt hại cho các đối thủ cạnh tranh, bởi vì họ không thể cạnh tranh được với tổ chức độc quyền về giá cả. Vì vậy, việc sử dụng giá cả độc quyền là một cách để các tổ chức độc quyền chiếm đoạt giá trị thặng dư của người khác.
Mở trang câu hỏi này →
AGiá trị của nó càng cao
BGiá cả của nó càng cao
CCả giá trị và giá cả của hàng hóa càng cao
Lời giải
Xét về giá trị của hàng hóa, hàng hóa càng khan hiếm thì giá trị của nó càng cao. Giá trị của hàng hóa là mức độ quan trọng và hữu ích của nó đối với người tiêu dùng. Khi hàng hóa khan hiếm, nó trở nên quý giá hơn và có thể đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng một cách hiệu quả hơn. Điều này dẫn đến giá cả của hàng hóa tăng lên, nhưng giá trị của nó lại càng cao hơn. Vì vậy, hàng hóa càng khan hiếm thì giá trị của nó càng cao.
Mở trang câu hỏi này →
ALực lượng sản xuất phát triển, nhiều ngành mới xuất hiện
BMục đích thu lợi nhuận độc quyền
CSự điều tiết của nhà nước
DNhiều ngành mới ra đời với những quan hệ sản xuất mới
Lời giải
Hình thức tổ chức và cơ chế thống trị của tư bản tài chính trong chủ nghĩa tư bản hiện đại ngày nay đã trải qua nhiều thay đổi. Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự thay đổi này là sự phát triển của lực lượng sản xuất. Khi lực lượng sản xuất phát triển, nhiều ngành mới xuất hiện và các quan hệ sản xuất cũng thay đổi theo. Điều này đòi hỏi tư bản tài chính phải thích nghi và thay đổi hình thức tổ chức và cơ chế thống trị của mình để đáp ứng nhu cầu mới của nền kinh tế. Sự phát triển của lực lượng sản xuất cũng dẫn đến sự đa dạng hóa của các ngành kinh tế, tạo điều kiện cho sự xuất hiện của các hình thức tổ chức và cơ chế thống trị mới của tư bản tài chính.
Mở trang câu hỏi này →
ASản xuất hàng hoá giản đơn và hàng hoá
BLưu thông hàng hoá
CSản xuất giá trị thặng dư
Lời giải
Khi nghiên cứu phương thức sản xuất TBCN, C.Mác bắt đầu từ việc phân tích cơ sở kinh tế của xã hội. Ông nhận thấy rằng phương thức sản xuất TBCN dựa trên sự sản xuất hàng hóa, bao gồm cả hàng hóa giản đơn và hàng hóa phức tạp. Mác muốn hiểu rõ hơn về quá trình sản xuất hàng hóa và cách thức mà giá trị thặng dư được tạo ra trong xã hội. Ông bắt đầu bằng việc nghiên cứu sản xuất hàng hóa giản đơn và hàng hóa, để từ đó có thể phân tích sâu hơn về sự hình thành giá trị thặng dư và cách thức mà xã hội sản xuất hàng hóa.
Mở trang câu hỏi này →
ASản xuất và tiêu dùng
BTuần hoàn và chu chuyển tư bản
CTích tụ và tập trung tư bản
Lời giải
Lạm phát là hiện tượng kinh tế quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa. Nó diễn ra khi giá cả hàng hóa và dịch vụ tăng lên liên tục trong một thời gian dài. Trong nền sản xuất hàng hóa, lạm phát tác động trực tiếp đến hai khía cạnh chính: sản xuất và tiêu dùng. Sản xuất bị ảnh hưởng bởi lạm phát khi giá nguyên liệu đầu vào tăng cao, khiến cho chi phí sản xuất tăng lên. Điều này có thể dẫn đến việc giảm lợi nhuận hoặc thậm chí là thua lỗ cho các doanh nghiệp. Mặt khác, tiêu dùng cũng bị ảnh hưởng bởi lạm phát khi giá hàng hóa và dịch vụ tăng cao, khiến cho người tiêu dùng phải chi tiêu nhiều hơn để đáp ứng nhu cầu cơ bản của mình. Vì vậy, lạm phát có thể dẫn đến sự bất ổn trong nền kinh tế và ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân.
Mở trang câu hỏi này →
ATỷ lệ nghịch với năng suất lao động, không phụ thuộc vào cường độ lao động.
BTỷ lệ thuận với năng suất lao động
CTỷ lệ nghịch với cường độ lao động
Lời giải
Lượng giá trị của đơn vị hàng hoá thay đổi theo nguyên tắc giá trị lao động. Khi năng suất lao động tăng lên, giá trị của đơn vị hàng hoá cũng tăng lên theo. Điều này có nghĩa là giá trị của hàng hoá phụ thuộc vào năng suất lao động của người lao động. Cường độ lao động không phải là yếu tố quyết định giá trị của hàng hoá. Ví dụ, nếu một người lao động có năng suất cao hơn người khác, thì giá trị của hàng hoá mà họ sản xuất cũng sẽ cao hơn. Điều này cho thấy rằng giá trị của hàng hoá phụ thuộc vào năng suất lao động, không phụ thuộc vào cường độ lao động.
Mở trang câu hỏi này →
ATư bản độc quyền và tư bản nhà nước
BTư bản bất biến và tư bản khả biến
CTư bản cố định và tư bản lưu động
Lời giải
Để làm rõ vai trò của các bộ phận tư bản trong việc tạo ra giá trị thặng dư, chúng ta cần phân tích sự khác biệt giữa tư bản bất biến và tư bản khả biến. Tư bản bất biến bao gồm các bộ phận tư bản cố định như máy móc, thiết bị sản xuất, trong khi tư bản khả biến bao gồm các bộ phận lưu động như nguyên liệu, lao động. Sự khác biệt này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cách thức mà tư bản tạo ra giá trị thặng dư và cách thức mà giá trị thặng dư được phân phối giữa các bộ phận tư bản.
Mở trang câu hỏi này →
ASản xuất và tiêu dùng
BPhân phối và trao đổi
CTiêu dùng
Lời giải
Quan hệ cung cầu là một khái niệm quan trọng trong kinh tế học, mô tả mối quan hệ giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Trong quá trình tái sản xuất xã hội, quan hệ cung cầu thuộc khâu sản xuất và tiêu dùng. Khâu này bao gồm cả quá trình sản xuất hàng hóa và dịch vụ, cũng như quá trình tiêu dùng những hàng hóa và dịch vụ đó. Quan hệ cung cầu ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định sản xuất và tiêu dùng của các cá nhân và doanh nghiệp. Khi cung cầu tăng, giá cả hàng hóa và dịch vụ cũng tăng, và ngược lại. Quan hệ cung cầu còn giúp xác định mức độ hiệu quả của quá trình sản xuất và tiêu dùng trong nền kinh tế.
Mở trang câu hỏi này →
AChủ yếu áp dụng ở giai đoạn đầu của CNTB khi kỹ thuật còn thủ công lạc hậu.
BGiá trị sức lao động không thay đổi.
CNgày lao động không thay đổi.
Lời giải
Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư ở giai đoạn đầu của chế độ sản xuất tư bản chủ nghĩa, khi kỹ thuật còn thủ công lạc hậu. Trong giai đoạn này, giá trị thặng dư được tạo ra chủ yếu thông qua sự gia tăng thời gian lao động và sự tăng lên của giá trị sức lao động. Điều này có nghĩa là giá trị thặng dư được tạo ra không phải là do sự gia tăng năng suất lao động, mà là do sự gia tăng thời gian lao động và giá trị sức lao động. Vì vậy, nhận xét "Giá trị sức lao động không thay đổi" và "Ngày lao động không thay đổi" không đúng. Giá trị sức lao động và ngày lao động sẽ thay đổi theo sự phát triển của kỹ thuật và sản xuất.
Mở trang câu hỏi này →
ATư bản sản xuất.
BTư bản tiền tệ.
CTư bản bất biến.
Lời giải
Tư bản cố định và tư bản lưu động được coi là hai dạng của tư bản sản xuất. Tư bản cố định bao gồm các tài sản như máy móc, thiết bị, nhà xưởng, v.v. được sử dụng trong quá trình sản xuất để tạo ra giá trị thặng dư. Tư bản lưu động bao gồm các tài sản như lao động sống, nguyên liệu thô, nhiên liệu, v.v. được sử dụng để tạo ra sản phẩm. Cả hai loại tư bản này đều được sử dụng để sản xuất hàng hóa và tạo ra giá trị thặng dư cho chủ sở hữu. Vì vậy, tư bản cố định và tư bản lưu động thuộc phạm trù tư bản sản xuất.
Mở trang câu hỏi này →
ASản xuất - trao đổi - phân phối - tiêu dùng
BTrao đổi - tiêu dùng - phân phối - sản xuất
CSản xuất - phân phối - trao đổi - tiêu dùng
Lời giải
Quá trình tái sản xuất là chuỗi các hoạt động liên quan đến việc tạo ra và phân phối hàng hóa, dịch vụ. Để xác định trình tự các khâu của quá trình tái sản xuất, chúng ta cần xem xét từng bước một cách chi tiết. Trước hết, là khâu sản xuất, nơi mà các nguyên liệu thô được chuyển đổi thành hàng hóa hoặc dịch vụ. Sau đó, hàng hóa hoặc dịch vụ được phân phối đến các điểm bán hàng hoặc người tiêu dùng. Tiếp theo, là khâu trao đổi, nơi mà hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi giữa người bán và người mua. Cuối cùng, là khâu tiêu dùng, nơi mà hàng hóa hoặc dịch vụ được sử dụng để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Vì vậy, trình tự các khâu của quá trình tái sản xuất là: Sản xuất - phân phối - trao đổi - tiêu dùng.
Mở trang câu hỏi này →
ATất cả các chức năng của tiền tệ
BChỉ có chức năng thuộc đo giá trị
CChức năng thước đo giá trị, chức năng tích lũy và chức năng cất trữ
DChức năng thước đo giá trị chức năng tích lũy, cất trữ và chức năng tiền tệ thế giới
Lời giải
Tiền tệ có nhiều chức năng quan trọng, bao gồm thước đo giá trị, tích lũy, cất trữ và chức năng tiền tệ thế giới. Trong đó, chức năng thước đo giá trị cho phép chúng ta đo lường giá trị của hàng hóa và dịch vụ. Chức năng tích lũy cho phép chúng ta tích lũy và lưu trữ giá trị trong tương lai. Chức năng cất trữ cho phép chúng ta giữ lại giá trị trong thời gian dài. Chức năng tiền tệ thế giới cho phép chúng ta sử dụng tiền tệ để trao đổi hàng hóa và dịch vụ trên toàn thế giới. Vì vậy, để thực hiện được các chức năng này, tiền tệ đòi hỏi phải có tiền vàng.
Mở trang câu hỏi này →
AThời gian lao động giản đơn, thời gian lao động thặng dư.
BThời gian lao động phức tạp, thời gian lao động thặng dư.
CThời gian lao động cần thiết, thời gian lao động thặng dư.
DTất cả phương án trên
Lời giải
Ngày lao động của công nhân bao gồm thời gian lao động cần thiết và thời gian lao động thặng dư. Thời gian lao động cần thiết là thời gian mà công nhân phải làm việc để đáp ứng nhu cầu cơ bản của bản thân và gia đình. Thời gian lao động thặng dư là thời gian mà công nhân làm việc ngoài thời gian cần thiết, tạo ra lợi nhuận cho người sử dụng lao động. Đây là khái niệm cơ bản trong kinh tế học về lao động và được sử dụng để phân tích mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động. Trong thực tế, ngày lao động của công nhân thường bao gồm cả thời gian lao động cần thiết và thời gian lao động thặng dư, tùy thuộc vào điều kiện và thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Mở trang câu hỏi này →
ATái sản xuất mở rộng theo chiều rộng
BTái sản xuất mở rộng
CTái sản xuất mở rộng theo chiều sâu
Lời giải
Tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu là loại tái sản xuất làm tăng sản phẩm chủ yếu do tăng năng suất lao động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp không chỉ mở rộng quy mô sản xuất bằng cách tăng số lượng thiết bị, máy móc và lao động, mà còn tập trung vào việc tối ưu hóa quá trình sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và giảm thiểu lãng phí. Kết quả là, doanh nghiệp có thể sản xuất được nhiều sản phẩm hơn với cùng một mức chi phí, từ đó tăng cường khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường.
Mở trang câu hỏi này →
639Phân công lao động xã hội4 lựa chọn
ALà một trong những nguyên nhân hình thành chủ nghĩa tư bản độc quyền
BKhông dẫn đến sự hình thành tư bản độc quyền
CNguyên nhân hình thành chủ nghĩa tư bản
DLà một trong những nguyên nhân hình thành chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước
Lời giải
Phân công lao động xã hội là quá trình phân chia công việc và nguồn lực trong xã hội để đạt được hiệu suất cao nhất. Nó liên quan đến việc phân công lao động giữa các ngành nghề, các khu vực và các cá nhân. Trong kinh tế học, phân công lao động xã hội được coi là một trong những nguyên nhân hình thành chủ nghĩa tư bản độc quyền. Khi các doanh nghiệp được phân công lao động hiệu quả, chúng có thể tập trung vào các lĩnh vực kinh doanh cụ thể và đạt được lợi thế cạnh tranh. Điều này dẫn đến sự hình thành các tập đoàn lớn và độc quyền, nơi mà một số doanh nghiệp kiểm soát thị trường và quyết định giá cả. Vì vậy, phân công lao động xã hội đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản độc quyền.
Mở trang câu hỏi này →
ANăng suất lao động; lao động phức tạp
BNăng suất lao động, lao động giản đơn và lao động phức tạp
CLao động giản đơn; lao động phức tạp
DNăng suất lao động; cường độ lao động
Lời giải
Đáp án đúng: "Năng suất lao động, lao động giản đơn và lao động phức tạp". Giáo trình xác định lượng giá trị một đơn vị hàng hoá chịu tác động của hai nhóm nhân tố: năng suất lao động và tính chất của lao động, tức sự phân biệt lao động giản đơn với lao động phức tạp; năng suất tăng thì giá trị một đơn vị hàng hoá giảm, còn lao động phức tạp trong cùng thời gian tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn. "Năng suất lao động; lao động phức tạp" bỏ mất lao động giản đơn nên không nêu đủ cặp phạm trù về tính chất lao động. "Lao động giản đơn; lao động phức tạp" thiếu hẳn năng suất lao động, nhân tố tác động mạnh nhất tới giá trị một đơn vị hàng hoá. "Năng suất lao động; cường độ lao động" sai vì tăng cường độ lao động chỉ làm tăng tổng số sản phẩm và tổng giá trị, không làm thay đổi lượng giá trị kết tinh trong một đơn vị hàng hoá.
Mở trang câu hỏi này →
ATính chất xã hội
BTính chất tư nhân
CTính chất quốc tế
DTính chất kế hoạch
Lời giải
Đáp án đúng: "Tính chất tư nhân". Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức nghề nghiệp chuyên môn nhất định, do người sản xuất tự quyết định sản xuất cái gì và bằng cách nào, nên nó biểu hiện mặt riêng lẻ, độc lập của người sản xuất hàng hoá. "Tính chất xã hội" là tính chất do lao động trừu tượng phản ánh, vì chỉ khi quy mọi lao động về hao phí sức óc và sức bắp thịt nói chung thì lao động cá biệt mới trở thành một bộ phận của lao động xã hội. "Tính chất quốc tế" không phải phạm trù được dùng khi phân tích tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá. "Tính chất kế hoạch" là đặc trưng của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, không phải thuộc tính của lao động cụ thể trong sản xuất hàng hoá.
Mở trang câu hỏi này →
642Bản chất tiền tệ là gì?3 lựa chọn
ALà hàng hoá đặc biệt, làm vật ngang giá cho các hàng hoá khác, thể hiện lao động xã hội kết tinh trong hàng hoá
BPhản ánh quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá với nhau
CCác phương án trả lời đều đúng
Lời giải
Đáp án đúng: "Các phương án trả lời đều đúng". Tiền tệ là hàng hoá đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung cho mọi hàng hoá, và chính vì vậy nó đồng thời biểu hiện quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá; hai mệnh đề này là hai mặt không tách rời của cùng một bản chất. "Là hàng hoá đặc biệt, làm vật ngang giá cho các hàng hoá khác, thể hiện lao động xã hội kết tinh trong hàng hoá" mới chỉ nêu mặt hình thái vật chất của tiền, bỏ qua quan hệ xã hội ẩn sau hình thái ấy nên chưa đủ. "Phản ánh quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá với nhau" chỉ nêu mặt quan hệ xã hội mà không nói tiền là hàng hoá đặc biệt đóng vai trò vật ngang giá chung, nên cũng mới là một nửa định nghĩa.
Mở trang câu hỏi này →
ALao động phức tạp là lao động được tiến hành trong điều kiện cường độ lao động cao.
BLao động phức tạp là lao động trải qua đào tạo, huấn luyện.
CTrong cùng một thời gian lao động, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn.
DLao động phức tạp là bội số của lao động giản đơn.
Lời giải
Đáp án đúng: "Lao động phức tạp là lao động được tiến hành trong điều kiện cường độ lao động cao." Câu hỏi tìm mệnh đề sai, mà lao động phức tạp được phân biệt bằng trình độ đào tạo và kỹ năng chuyên môn chứ hoàn toàn không phải bằng cường độ lao động; một lao động giản đơn vẫn có thể làm việc với cường độ rất cao mà không vì thế trở thành lao động phức tạp. "Lao động phức tạp là lao động trải qua đào tạo, huấn luyện." đúng với định nghĩa trong giáo trình. "Trong cùng một thời gian lao động, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn." đúng, vì hao phí đào tạo được chuyển dần vào giá trị sản phẩm. "Lao động phức tạp là bội số của lao động giản đơn." đúng, đây là cách quy mọi lao động phức tạp về lao động giản đơn trung bình khi trao đổi.
Mở trang câu hỏi này →
AQuan hệ xã hội.
BQuan hệ Pháp luật.
CQuan hệ lợi ích.
DQuan hệ quốc tế.
Lời giải
Đáp án đúng: "Quan hệ lợi ích." Lợi ích kinh tế là động lực trực tiếp của mọi hoạt động kinh tế, nên giải quyết hài hoà quan hệ lợi ích giữa cá nhân, tập thể và xã hội mới làm cho các chủ thể chủ động vận dụng quy luật kinh tế, không ngừng sáng tạo và thúc đẩy văn minh, phát triển toàn diện. "Quan hệ xã hội." quá rộng, bao hàm cả nhiều quan hệ phi kinh tế nên không chỉ ra được động lực trực tiếp mà kinh tế chính trị bàn tới. "Quan hệ Pháp luật." chỉ là hình thức pháp lý ghi nhận và bảo vệ lợi ích, bản thân nó không sinh ra động lực kinh tế. "Quan hệ quốc tế." thuộc phạm vi đối ngoại giữa các quốc gia, không phải quan hệ nền tảng tạo động lực cho các chủ thể bên trong một xã hội.
Mở trang câu hỏi này →