MLN122Trung bìnhKỳ 8Đại cương Cập nhật 18 giờ trước

Kinh tế chính trị Mác - Lênin

MLN122 - Kinh tế chính trị Mác - Lênin là môn thuộc khối lý luận chính trị trong chương trình đại cương bậc cử nhân của Đại học FPT. Môn đi tìm lời đáp cho một câu hỏi cũ mà chưa bao giờ hết thời sự: của cải trong một xã hội được làm ra bằng cách nào, rồi chia cho ai theo luật lệ nào, và vì sao cách chia ấy lại thay đổi qua từng thời kỳ. Khác với những môn kinh tế chỉ mô tả giá cả và sản lượng, ở đây đối tượng là quan hệ giữa người với người ẩn sau các con số: ai nắm tư liệu sản xuất, ai phải bán sức lao động, phần dôi ra thuộc về bên nào. Điểm xuất phát là hàng hóa, tế bào của nền kinh tế thị trường, với hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng cùng tính hai mặt của lao động sản xuất ra nó; từ đó mới hiểu được vì sao thời gian lao động xã hội cần thiết quyết định lượng giá trị, vì sao tiền tệ ra đời, và quy luật giá trị điều tiết sản xuất theo cơ chế nào. Mạch thứ hai là giá trị thặng dư: sức lao động trở thành hàng hóa trong điều kiện nào, vì sao chỉ riêng nó tạo ra lượng giá trị lớn hơn giá trị bản thân, hai con đường kéo dài ngày lao động và tăng năng suất xã hội khác nhau ra sao, rồi lợi nhuận, lợi tức và địa tô che giấu nguồn gốc ấy bằng cách nào. Xuyên suốt cả hai mạch, công cụ làm việc là trừu tượng hóa khoa học, bởi quan hệ kinh tế không đem vào phòng thí nghiệm được mà phải gạt cái ngẫu nhiên để giữ lấy cái bản chất. Mạch thứ ba theo dấu sự vận động của chính nền kinh tế đó: cạnh tranh tự do dẫn tới tích tụ và tập trung sản xuất, độc quyền hình thành rồi kết hợp với sức mạnh nhà nước, đồng thời bộc lộ những biểu hiện mới của thời nay. Hai mạch cuối hướng hẳn về Việt Nam. Một bên là con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cùng những được và mất của hội nhập kinh tế quốc tế. Bên kia là mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo quy luật thị trường nhưng có sự quản lý của Nhà nước, nơi các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội phải được đặt hài hòa với nhau. Lợi ích: người học đọc được tin tức kinh tế ở tầng sâu hơn con số, hiểu vì sao giá cả lên xuống quanh giá trị chứ không trùng với nó, phân biệt được những cặp rất dễ nhầm khi làm bài trắc nghiệm như giá trị với giá cả, lao động cụ thể với lao động trừu tượng, tư bản bất biến với tư bản cố định, giá trị thặng dư tuyệt đối với tương đối, tích tụ với tập trung tư bản. Ngân hàng câu hỏi của môn kèm lời giải nêu rõ đáp án đúng dựa vào căn cứ nào và từng phương án còn lại sai ở chỗ nào, nên dùng được cả để ôn thi lẫn để tự rà lại chỗ mình đang hiểu lệch.

661Câu hỏi
9Bộ đề
6Chủ đề
5,03 đánh giá

Câu hỏi của môn

584/661 câuCòn 77
AConsortium, Cartel, Syndicate, Trust
BTrust, Cartel, Syndicate, Consortium
CCartel, Syndicate, Trust, Consortium
DSyndicate, Cartel, Trust, Consortium
Lời giải
Xét trên phương diện lịch sử, các hình thức tổ chức độc quyền tư bản chủ nghĩa phát triển từ thấp đến cao theo thứ tự: Cartel, Syndicate, Trust, Consortium. Cartel là hình thức tổ chức độc quyền cơ bản, nơi các doanh nghiệp cùng ngành hợp tác để hạn chế cạnh tranh. Sau đó, hình thức Syndicate xuất hiện, nơi các doanh nghiệp hợp tác để thực hiện các hoạt động kinh doanh cụ thể. Tiếp theo là Trust, hình thức tổ chức độc quyền phức tạp hơn, nơi các doanh nghiệp hợp nhất để tạo thành một doanh nghiệp lớn. Cuối cùng là Consortium, hình thức tổ chức độc quyền phức tạp nhất, nơi các doanh nghiệp hợp tác để thực hiện các dự án lớn và phức tạp.
Mở trang câu hỏi này →
AMục đích sản xuất tư bản chủ nghĩa vẫn vì lợi ích của thiểu số giai cấp
BChủ nghĩa tư bản đã và đang tham gia gây chiến tranh, xung đột nhiều nơi trên thế giới
CChủ nghĩa tư bản đã xoá bỏ hoàn toàn sự phân hoá giàu nghèo, đảm bảo phúc lợi cho người lao động
DSự phân hoá giàu nghèo trong các nước tư bản có xu hướng ngày càng sâu sắc
Lời giải
Theo giáo trình, chủ nghĩa tư bản có những giới hạn lịch sử quan trọng trong quá trình phát triển. Thứ nhất, mục đích sản xuất tư bản chủ nghĩa vẫn tập trung vào lợi ích của thiểu số giai cấp, dẫn đến sự bất công và phân biệt đối xử với người lao động. Thứ hai, chủ nghĩa tư bản đã và đang tham gia vào các cuộc chiến tranh và xung đột trên toàn thế giới, gây ra sự tàn phá và đau khổ cho nhiều người. Thứ ba, mặc dù chủ nghĩa tư bản đã mang lại một số tiến bộ về kinh tế và công nghệ, nhưng nó đã không thể xoá bỏ hoàn toàn sự phân hóa giàu nghèo và đảm bảo phúc lợi cho người lao động. Thay vào đó, sự phân hóa giàu nghèo trong các nước tư bản đã trở nên sâu sắc hơn, gây ra nhiều vấn đề xã hội và kinh tế.
Mở trang câu hỏi này →
ANhân dân lao động
BCác tập đoàn kinh tế tư nhân
CMột bộ phận giai cấp lãnh đạo
DCác nhà đầu tư nước ngoài
Lời giải
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết và quản lý nền kinh tế. Sự điều tiết của Nhà nước nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân lao động, đảm bảo sự công bằng và công lý trong phân phối tài nguyên và sản phẩm. Nhà nước thực hiện các chính sách và biện pháp để bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động, tạo điều kiện cho họ phát triển và nâng cao đời sống. Điều này thể hiện rõ nét trong các chính sách về lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội và các chính sách khác liên quan đến người lao động.
Mở trang câu hỏi này →
AĐại hội VIII (1996)
BĐại hội IX (2001)
CĐại hội X (2006)
DĐại hội XI (2011)
Lời giải
Nhận thức của Đảng về mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được khẳng định chính thức tại Đại hội IX của Đảng. Đại hội IX được tổ chức vào năm 2001, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế của nước ta. Tại đại hội này, Đảng đã xác định rõ mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Điều này thể hiện sự thay đổi trong nhận thức của Đảng về mô hình kinh tế, từ đó giúp định hướng cho quá trình xây dựng và phát triển kinh tế trong thời gian tới.
Mở trang câu hỏi này →
ACó sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
BThực hiện phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế
CPhát huy được trí tuệ và nguồn lực của toàn dân
DTuyệt đối hoá vai trò của thành phần kinh tế tư nhân
Lời giải
Theo giáo trình, tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường Việt Nam được thể hiện ở những khía cạnh sau đây. Thứ nhất, có sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Điều này thể hiện rõ nét qua việc Nhà nước xây dựng và thực hiện các chính sách kinh tế, xã hội, đảm bảo sự phát triển bền vững và công bằng. Thứ hai, thực hiện phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế. Điều này giúp đảm bảo rằng lợi ích được phân phối một cách công bằng và hợp lý, dựa trên đóng góp của từng cá nhân và tổ chức. Thứ ba, phát huy được trí tuệ và nguồn lực của toàn dân. Điều này thể hiện qua việc Nhà nước tạo điều kiện cho các cá nhân và tổ chức tham gia vào quá trình quyết định và thực hiện các chính sách kinh tế, xã hội.
Mở trang câu hỏi này →
AĐảm bảo tính đồng bộ giữa các bộ phận của thể chế kinh tế và các yếu tố thị trường
BKế thừa có chọn lọc thành tựu phát triển kinh tế thị trường của nhân loại và kinh nghiệm đổi mới ở VN
CLoại bỏ hoàn toàn vai trò điều tiết của Nhà nước trong nền kinh tế
DTôn trọng và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan của kinh tế thị trường
Lời giải
Theo giáo trình, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cần đảm bảo tính đồng bộ giữa các bộ phận của thể chế kinh tế và các yếu tố thị trường. Điều này có nghĩa là các bộ phận khác nhau của thể chế kinh tế phải được thiết kế và vận hành một cách thống nhất, nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế thị trường một cách hiệu quả. Ngoài ra, chúng ta cần kế thừa có chọn lọc thành tựu phát triển kinh tế thị trường của nhân loại và kinh nghiệm đổi mới ở Việt Nam. Điều này giúp chúng ta có thể học hỏi và áp dụng những kinh nghiệm tốt nhất từ các quốc gia khác, đồng thời cũng có thể rút kinh nghiệm từ những sai lầm của họ. Cuối cùng, chúng ta cần tôn trọng và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan của kinh tế thị trường. Điều này giúp chúng ta có thể hiểu được những quy luật cơ bản của kinh tế thị trường và có thể đưa ra những quyết định sáng suốt trong việc xây dựng và phát triển thể chế kinh tế.
Mở trang câu hỏi này →
ATất cả các ngành, các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân nhằm đảm bảo vai trò quản lý toàn diện và tuyệt đối của Nhà nước.
BNhững ngành kinh tế mũi nhọn có khả năng quay vòng vốn nhanh và đem lại tỷ suất sinh lời cao nhất nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho ngân sách.
CNhững ngành kinh tế then chốt vừa chi phối nền kinh tế, vừa đảm bảo an ninh, quốc phòng và phục vụ lợi ích công cộng.
DNhững ngành kinh tế chuyên sản xuất hàng tiêu dùng thiết yếu và cung ứng dịch vụ hằng ngày nhằm đáp ứng trực tiếp nhu cầu đời sống của nhân dân.
Lời giải
Theo giáo trình, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, các doanh nghiệp nhà nước được yêu cầu tập trung đầu tư vào những ngành kinh tế then chốt vừa chi phối nền kinh tế, vừa đảm bảo an ninh, quốc phòng và phục vụ lợi ích công cộng. Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp nhà nước sẽ tập trung vào các ngành kinh tế quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của nền kinh tế và đảm bảo an ninh quốc phòng. Ví dụ, các ngành như năng lượng, giao thông vận tải, y tế, giáo dục, quốc phòng... sẽ được ưu tiên đầu tư bởi chúng đóng vai trò then chốt trong việc duy trì sự ổn định và phát triển của nền kinh tế.
Mở trang câu hỏi này →
ACó thể và cần thiết sử dụng kinh tế thị trường để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
BKinh tế thị trường chỉ tồn tại trong chủ nghĩa tư bản
CCần loại bỏ hoàn toàn kinh tế thị trường để xây dựng chủ nghĩa xã hội
DKinh tế thị trường tự phát sẽ dẫn đến chủ nghĩa xã hội
Lời giải
Theo giáo trình, tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế thị trường được thể hiện qua việc cho rằng kinh tế thị trường có thể và cần thiết được sử dụng để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Điều này thể hiện sự linh hoạt và sáng tạo trong việc áp dụng mô hình kinh tế thị trường để đạt được mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tư duy này cho rằng kinh tế thị trường có thể là công cụ hiệu quả để đạt được sự phát triển kinh tế và xã hội, đồng thời cũng có thể giúp xây dựng một xã hội công bằng và công bằng hơn. Điều này thể hiện sự khác biệt so với các quan điểm khác về kinh tế thị trường, trong đó cho rằng kinh tế thị trường chỉ tồn tại trong chủ nghĩa tư bản hoặc cần được loại bỏ hoàn toàn để xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Mở trang câu hỏi này →
APhân phối hoàn toàn theo nhu cầu của mỗi cá nhân không xét đến đóng góp
BPhân phối ngang bằng nhau cho mọi thành viên trong xã hội
CPhân phối theo lao động, hiệu quả kinh tế và theo phúc lợi xã hội
DPhân phối hoàn toàn theo cơ chế cung - cầu của thị trường tự do
Lời giải
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, hình thức phân phối theo lao động, hiệu quả kinh tế và theo phúc lợi xã hội phản ánh tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế. Điều này có nghĩa là phân phối tài nguyên và sản phẩm theo nguyên tắc công bằng, đảm bảo rằng mọi người đều có cơ hội phát triển và hưởng thụ kết quả lao động của mình. Hình thức phân phối này cũng đảm bảo rằng lợi ích của xã hội được ưu tiên hơn lợi ích của cá nhân, tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững và công bằng của nền kinh tế.
Mở trang câu hỏi này →
ANền kinh tế tự cấp tự túc
BNền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa
CNền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
DNền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
Lời giải
Mục tiêu 'dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh' được đề cập trong giáo trình là mục tiêu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nền kinh tế này kết hợp giữa các yếu tố của kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm đạt được sự phát triển kinh tế, xã hội và chính trị đồng bộ. Mục tiêu này phản ánh tầm nhìn của Đảng và Nhà nước Việt Nam về một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, trong đó mọi người có cơ hội phát triển và cải thiện cuộc sống.
Mở trang câu hỏi này →
AĐảm bảo các yếu tố thị trường được phát triển đồng bộ
BĐảm bảo các loại thị trường vận hành thông suốt và liên kết với nhau
CGiới hạn vai trò của thị trường nước ngoài
DTập trung thể chế chỉ vào thị trường giá cả
Lời giải
Để hoàn thiện thể chế và phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường, cũng như các loại thị trường, cần đáp ứng một số yêu cầu quan trọng. Trước hết, cần đảm bảo rằng các yếu tố thị trường được phát triển đồng bộ, bao gồm cả thị trường hàng hóa, dịch vụ, lao động và tài chính. Điều này đảm bảo rằng các yếu tố thị trường hoạt động hiệu quả và không bị hạn chế bởi bất kỳ yếu tố nào. Thứ hai, cần đảm bảo rằng các loại thị trường vận hành thông suốt và liên kết với nhau. Điều này có nghĩa là các thị trường khác nhau, như thị trường hàng hóa, dịch vụ và lao động, cần được liên kết và vận hành một cách thống nhất để đạt được hiệu quả tối đa. Bằng cách đáp ứng những yêu cầu này, thể chế có thể được hoàn thiện và các yếu tố thị trường có thể được phát triển đồng bộ, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
Mở trang câu hỏi này →
ATrình độ phát triển của lực lượng sản xuất
BQuan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động
CChính sách phân phối thu nhập của nhà nước
DHội nhập kinh tế quốc tế
Lời giải
Theo giáo trình, quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động không phải là yếu tố ảnh hưởng đến quan hệ lợi ích kinh tế ở Việt Nam. Quan hệ lợi ích kinh tế thường được hiểu là mối quan hệ giữa các nhóm lợi ích khác nhau trong xã hội, bao gồm các nhóm lợi ích kinh tế, chính trị và xã hội. Quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động là một phần của quan hệ xã hội, nhưng nó không phải là yếu tố chính ảnh hưởng đến quan hệ lợi ích kinh tế. Thay vào đó, các yếu tố như trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, chính sách phân phối thu nhập của nhà nước và hội nhập kinh tế quốc tế thường được xem xét khi đánh giá quan hệ lợi ích kinh tế.
Mở trang câu hỏi này →
AKhoa học công nghệ và nhân lực chất lượng cao
BTài nguyên thiên nhiên và lao động giá rẻ
CVị trí địa lý chiến lược
DQuy mô dân số đông
Lời giải
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ mang lại nhiều thay đổi lớn lao cho các nước đang phát triển. Một trong những lợi thế truyền thống của họ sẽ bị mất đi đó là tài nguyên thiên nhiên và lao động giá rẻ. Với sự phát triển của công nghệ và tự động hóa, các nước đang phát triển sẽ không còn có thể tận dụng được lợi thế này. Các công ty đa quốc gia sẽ không còn phụ thuộc vào lao động giá rẻ ở các nước đang phát triển mà sẽ chuyển sang các quốc gia có trình độ công nghệ và lao động chất lượng cao hơn. Điều này sẽ tạo ra một thách thức lớn cho các nước đang phát triển trong việc cạnh tranh về kinh tế và phát triển.
Mở trang câu hỏi này →
AHiệp tác giản đơn, khoa học kỹ thuật, máy móc.
BHiệp tác giản đơn, công trường thủ công, đại công nghiệp.
CCông trường thủ công, đại công nghiệp, tự động sản xuất.
DTự động sản xuất, tiểu thủ công, độc lập sản xuất.
Lời giải
Khi nghiên cứu về Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, C.Mác đã khái quát tính quy luật của cách mạng công nghiệp qua ba giai đoạn. Theo đó, giai đoạn đầu tiên là Hiệp tác giản đơn, nơi mà các công nhân thực hiện các công việc đơn giản và thủ công. Tiếp theo là giai đoạn Công trường thủ công, nơi mà các công nhân sử dụng các công cụ và máy móc để sản xuất hàng hóa. Cuối cùng là giai đoạn Đại công nghiệp, nơi mà các máy móc và thiết bị được sử dụng rộng rãi để sản xuất hàng hóa với quy mô lớn. Mỗi giai đoạn này đều có những đặc điểm và tính chất riêng biệt, và C.Mác đã sử dụng chúng để khái quát tính quy luật của cách mạng công nghiệp lần thứ nhất.
Mở trang câu hỏi này →
ACông nghiệp hoá là quy luật phổ biến của sự phát triển mà mọi quốc gia đều phải trải qua
BXây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho CNXH phải thực hiện thông qua công nghiệp hoá - hiện đại hoá
CĐể loại bỏ hoàn toàn các thành phần kinh tế ngoài nhà nước
DĐể cạnh tranh trực tiếp với các nước tư bản phát triển
Lời giải
Theo giáo trình, lý do khách quan để Việt Nam phải thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá là do công nghiệp hoá là quy luật phổ biến của sự phát triển mà mọi quốc gia đều phải trải qua. Điều này có nghĩa là quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá không chỉ là mục tiêu của Việt Nam, mà còn là một quá trình tất yếu trong sự phát triển của các quốc gia trên thế giới. Ngoài ra, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội phải thực hiện thông qua công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Điều này có nghĩa là quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá không chỉ giúp Việt Nam phát triển kinh tế, mà còn giúp xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội.
Mở trang câu hỏi này →
AKhủng hoảng sản xuất "thừa" so với sức mua có hạn của xã hội.
BKhủng hoảng sản xuất "thừa" so với nhu cầu xã hội.
CKhủng hoảng sản xuất "thiếu hụt" so với sức mua.
DKhủng hoảng sản xuất thiếu do tình trạng thất nghiệp
Lời giải
Đáp án đúng: A. Khủng hoảng thừa trong chủ nghĩa tư bản là thừa một cách TƯƠNG ĐỐI, tức là hàng hoá thừa so với sức mua có khả năng thanh toán của xã hội, chứ không phải thừa so với nhu cầu thực tế. Đây chính là nghịch lý kinh điển mà C. Mác chỉ ra: hàng hoá chất đống trong kho không bán được trong khi người lao động vẫn thiếu thốn, vì họ không có tiền để mua. Nguyên nhân sâu xa là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá của sản xuất với hình thức chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Vì vậy phương án B sai ở chỗ lấy "nhu cầu xã hội" làm mốc so sánh; C và D lại mô tả tình trạng thiếu hụt, ngược hẳn bản chất của khủng hoảng thừa.
Mở trang câu hỏi này →
AMọi hàng hoá có khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường
BMọi sản phẩm của lao động
CMột số sản phẩm nhất định của thị trường
DMọi sản phẩm được sản xuất ra bởi máy móc, công nghệ
Lời giải
Đáp án đúng: A. Trong kinh tế chính trị Mác - Lênin, cung là khối lượng hàng hoá, dịch vụ đang có trên thị trường hoặc có khả năng thực tế được đưa ra thị trường để đáp ứng nhu cầu có khả năng thanh toán, ứng với một mức giá nhất định. Điểm mấu chốt là hai điều kiện: phải là hàng hoá (được sản xuất để bán) và phải có khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường. Phương án B quá rộng vì nhiều sản phẩm của lao động không được đem bán nên không nằm trong cung; phương án C thu hẹp sai vào "một số sản phẩm nhất định"; phương án D lại giới hạn theo cách thức sản xuất bằng máy móc, trong khi nguồn gốc công nghệ của sản phẩm không liên quan gì đến phạm trù cung.
Mở trang câu hỏi này →
ATăng trưởng kinh tế không đi kèm với tiến bộ xã hội.
BĐảm bảo dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
CPhát triển kinh tế gắn với phân bổ nguồn lực hợp lý và tiết kiệm.
DTăng cường sự can thiệp của Nhà nước vào các hoạt động kinh tế.
Lời giải
Đáp án đúng: B và C. Mục tiêu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, hướng tới "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" (phương án B) và sử dụng thị trường như cơ chế phân bổ nguồn lực hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả (phương án C). Phương án A sai vì đặc trưng cốt lõi của mô hình này là tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển, không tách rời. Phương án D sai vì Nhà nước giữ vai trò quản lý, định hướng và điều tiết bằng công cụ kinh tế chứ không phải can thiệp hành chính ngày càng sâu vào hoạt động của doanh nghiệp.
Mở trang câu hỏi này →
ASố cổ phiếu khống chế
BLợi nhuận
CLợi tức
DQuyền lực chính trị
Lời giải
Đáp án đúng: A. Chế độ tham dự là cơ chế để một nhóm nhỏ tư bản tài chính khống chế một hệ thống doanh nghiệp khổng lồ. Nhà tư bản tài chính mua đủ số cổ phiếu khống chế của "công ty mẹ", nhờ đó chi phối được công ty mẹ; công ty mẹ lại nắm cổ phiếu khống chế của các "công ty con", công ty con nắm "công ty cháu"... Qua nhiều tầng như vậy, một lượng vốn ban đầu tương đối nhỏ có thể điều khiển một khối lượng tư bản lớn gấp nhiều lần. Lợi nhuận (B) và lợi tức (C) chỉ là kết quả thu được chứ không phải công cụ thiết lập quyền chi phối; quyền lực chính trị (D) tuy có liên hệ với tư bản tài chính nhưng không phải là cách chế độ tham dự được xác lập về mặt sở hữu.
Mở trang câu hỏi này →
584Kinh tế chính trị gồm có những chức năng nào?4 lựa chọnKhó33% trả lời đúng
ANhận thức; nghiên cứu; phương pháp luận; tư tưởng
BNhận thức; thực tiễn; phương pháp luận; cơ sở lý luận
CNhận thức; thực tiễn; phương pháp luận; tư tưởng
DNhận thức; thực tiễn; tư duy; tư tưởng
Lời giải
Đáp án đúng: C. Kinh tế chính trị Mác - Lênin có bốn chức năng: chức năng nhận thức (cung cấp tri thức về bản chất và quy luật vận động của các quan hệ sản xuất - trao đổi), chức năng thực tiễn (làm cơ sở cho hoạt động kinh tế và hoạch định chính sách), chức năng phương pháp luận (làm nền tảng lý luận cho các khoa học kinh tế ngành) và chức năng tư tưởng (góp phần xây dựng thế giới quan, lập trường giai cấp). Phương án A thay "thực tiễn" bằng "nghiên cứu" - vốn là phương pháp chứ không phải chức năng; phương án B thay "tư tưởng" bằng "cơ sở lý luận" vốn trùng nghĩa với phương pháp luận; phương án D bỏ mất phương pháp luận và thêm "tư duy" không có trong hệ thống bốn chức năng.
Mở trang câu hỏi này →