MLN122Trung bìnhKỳ 8Đại cương Cập nhật 1 ngày trước

Kinh tế chính trị Mác - Lênin

MLN122 - Kinh tế chính trị Mác - Lênin là môn thuộc khối lý luận chính trị trong chương trình đại cương bậc cử nhân của Đại học FPT. Môn đi tìm lời đáp cho một câu hỏi cũ mà chưa bao giờ hết thời sự: của cải trong một xã hội được làm ra bằng cách nào, rồi chia cho ai theo luật lệ nào, và vì sao cách chia ấy lại thay đổi qua từng thời kỳ. Khác với những môn kinh tế chỉ mô tả giá cả và sản lượng, ở đây đối tượng là quan hệ giữa người với người ẩn sau các con số: ai nắm tư liệu sản xuất, ai phải bán sức lao động, phần dôi ra thuộc về bên nào. Điểm xuất phát là hàng hóa, tế bào của nền kinh tế thị trường, với hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng cùng tính hai mặt của lao động sản xuất ra nó; từ đó mới hiểu được vì sao thời gian lao động xã hội cần thiết quyết định lượng giá trị, vì sao tiền tệ ra đời, và quy luật giá trị điều tiết sản xuất theo cơ chế nào. Mạch thứ hai là giá trị thặng dư: sức lao động trở thành hàng hóa trong điều kiện nào, vì sao chỉ riêng nó tạo ra lượng giá trị lớn hơn giá trị bản thân, hai con đường kéo dài ngày lao động và tăng năng suất xã hội khác nhau ra sao, rồi lợi nhuận, lợi tức và địa tô che giấu nguồn gốc ấy bằng cách nào. Xuyên suốt cả hai mạch, công cụ làm việc là trừu tượng hóa khoa học, bởi quan hệ kinh tế không đem vào phòng thí nghiệm được mà phải gạt cái ngẫu nhiên để giữ lấy cái bản chất. Mạch thứ ba theo dấu sự vận động của chính nền kinh tế đó: cạnh tranh tự do dẫn tới tích tụ và tập trung sản xuất, độc quyền hình thành rồi kết hợp với sức mạnh nhà nước, đồng thời bộc lộ những biểu hiện mới của thời nay. Hai mạch cuối hướng hẳn về Việt Nam. Một bên là con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cùng những được và mất của hội nhập kinh tế quốc tế. Bên kia là mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo quy luật thị trường nhưng có sự quản lý của Nhà nước, nơi các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội phải được đặt hài hòa với nhau. Lợi ích: người học đọc được tin tức kinh tế ở tầng sâu hơn con số, hiểu vì sao giá cả lên xuống quanh giá trị chứ không trùng với nó, phân biệt được những cặp rất dễ nhầm khi làm bài trắc nghiệm như giá trị với giá cả, lao động cụ thể với lao động trừu tượng, tư bản bất biến với tư bản cố định, giá trị thặng dư tuyệt đối với tương đối, tích tụ với tập trung tư bản. Ngân hàng câu hỏi của môn kèm lời giải nêu rõ đáp án đúng dựa vào căn cứ nào và từng phương án còn lại sai ở chỗ nào, nên dùng được cả để ôn thi lẫn để tự rà lại chỗ mình đang hiểu lệch.

661Câu hỏi
9Bộ đề
6Chủ đề
5,03 đánh giá

Câu hỏi của môn

404/661 câuCòn 257
385Trên giác độ kinh tế chính trị, cầu được hiểu là:3 lựa chọnTrung bình44% trả lời đúng
ANhu cầu của xã hội về dịch vụ
BNhu cầu xã hội về hàng hóa
CNhu cầu có khả năng thanh toán của xã hội
Lời giải
Trên giác độ kinh tế chính trị, cầu được hiểu là nhu cầu có khả năng thanh toán của xã hội. Điều này có nghĩa là cầu chỉ bao gồm những nhu cầu có khả năng đáp ứng được thông qua việc mua bán hàng hóa và dịch vụ. Nhu cầu của xã hội về dịch vụ và hàng hóa không phải lúc nào cũng có khả năng thanh toán, vì vậy chúng không được tính vào cầu. Ví dụ, nhu cầu về nhà ở, giáo dục, y tế,... là những nhu cầu thiết yếu của xã hội nhưng chúng không phải lúc nào cũng có khả năng thanh toán. Vì vậy, trên giác độ kinh tế chính trị, cầu được hiểu là nhu cầu có khả năng thanh toán của xã hội.
Mở trang câu hỏi này →
386Tích lũy tư bản là:3 lựa chọnTrung bình67% trả lời đúng
ATư bản hóa tư liệu tiêu dùng
BTư bản hóa giá trị thặng dư
CTư bản hóa sức lao động
Lời giải
Tích lũy tư bản là quá trình một doanh nghiệp hoặc cá nhân thu thập và tích trữ tài sản, vốn để đầu tư vào hoạt động kinh doanh hoặc sản xuất. Quá trình này liên quan đến việc tạo ra và tăng cường giá trị của tài sản, vốn thông qua việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Trong kinh tế học, tích lũy tư bản thường được liên hệ với quá trình tư bản hóa, nơi mà giá trị thặng dư được tạo ra thông qua lao động và được sử dụng để tăng cường vốn. Điều này cho phép doanh nghiệp hoặc cá nhân mở rộng hoạt động kinh doanh, đầu tư vào công nghệ mới hoặc mở rộng quy mô sản xuất.
Mở trang câu hỏi này →
Am'=giá trị thặng dư / tư bản khả biến*100%
Bm'= thời gian lao động tất yếu/thời gian lao động cần thiết *100%
Cm'= thời gian lao động thặng dư/lao động cần thiết*100%
Dm'= giá trị sức lao động / giá trị thặng dư *100%
Lời giải
Tỷ suất giá trị thặng dư là chỉ số thể hiện mức độ thặng dư trong quá trình sản xuất. Để tính tỷ suất giá trị thặng dư, chúng ta cần biết giá trị thặng dư và tư bản khả biến. Công thức đúng để tính tỷ suất giá trị thặng dư là: m'= giá trị thặng dư / tư bản khả biến * 100%. Ví dụ, nếu giá trị thặng dư là 100 và tư bản khả biến là 500, thì tỷ suất giá trị thặng dư là (100 / 500) * 100% = 20%. Điều này cho thấy rằng cứ 100 đơn vị giá trị thặng dư, thì có 20 đơn vị giá trị thặng dư tương ứng với 100 đơn vị tư bản khả biến.
Mở trang câu hỏi này →
388Trong quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, có hai loại hao mòn đó là:4 lựa chọnTrung bình40% trả lời đúng
AHao mòn hữu hình và hao mòn vô hình
BHao mòn tự nhiên và hao mòn giá trị
CHao mòn máy móc và hao mòn sức lao động
DHao mòn máy móc và hao mòn nguyên liệu
Lời giải
Trong quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, hao mòn là một phần quan trọng của quá trình sản xuất. Có hai loại hao mòn chính trong quá trình này, đó là hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình. Hao mòn hữu hình bao gồm các vật chất như máy móc, thiết bị, nguyên liệu, v.v. bị hao mòn do sử dụng, hư hỏng, hoặc bị phá hủy. Hao mòn vô hình bao gồm các yếu tố như thời gian lao động, năng lượng, và các chi phí khác không thể nhìn thấy nhưng vẫn ảnh hưởng đến quá trình sản xuất. Cả hai loại hao mòn này đều đóng vai trò quan trọng trong việc xác định giá trị của sản phẩm và hiệu quả của quá trình sản xuất.
Mở trang câu hỏi này →
389m'- Tỷ suất giá trị thặng dư là:4 lựa chọnKhó25% trả lời đúng
ATỷ lệ phần trăm giữa lượng giá trị thặng dư với tư bản bất biến
BTỷ lệ phần trăm giữa lượng tư bản bất biến với tư bản khả biến
CTỷ lệ phần trăm giữa lượng giá trị thặng dư với tư bản khả biến
DTỷ lệ phần trăm giữa lượng sản phẩm thặng dư với tư bản khả biến
Lời giải
Tỷ suất giá trị thặng dư là một khái niệm quan trọng trong kinh tế học Marx. Nó được định nghĩa là tỷ lệ phần trăm giữa lượng giá trị thặng dư tạo ra trong quá trình sản xuất và lượng tư bản khả biến được sử dụng. Giá trị thặng dư là phần giá trị của sản phẩm vượt quá giá trị của tư bản khả biến được sử dụng để sản xuất nó. Tỷ suất giá trị thặng dư phản ánh mức độ hiệu quả của quá trình sản xuất và mức độ tạo ra giá trị thặng dư. Nó cũng ảnh hưởng đến mức độ giàu có của chủ sở hữu tư bản.
Mở trang câu hỏi này →
390Nguồn gốc của tích lũy tư bản là:3 lựa chọnTrung bình60% trả lời đúng
AGiá trị của hàng hóa
BGiá trị thặng dư
CGiá trị của hàng hóa sức lao động
Lời giải
Tích lũy tư bản là quá trình tích tụ và tăng trưởng của tư bản trong nền kinh tế. Để hiểu rõ nguồn gốc của tích lũy tư bản, chúng ta cần xem xét khái niệm giá trị thặng dư. Giá trị thặng dư là phần giá trị được tạo ra bởi lao động sản xuất vượt quá giá trị của hàng hóa và dịch vụ được sử dụng để sản xuất hàng hóa đó. Khi doanh nghiệp sản xuất hàng hóa và dịch vụ, họ tạo ra giá trị thặng dư thông qua lao động sản xuất. Giá trị thặng dư này được sử dụng để tăng trưởng và tích lũy tư bản, tạo điều kiện cho sự mở rộng và phát triển của doanh nghiệp. Vì vậy, nguồn gốc của tích lũy tư bản chính là giá trị thặng dư.
Mở trang câu hỏi này →
391Khi nào sức lao động trở thành hàng hoá một cách phổ biến?3 lựa chọnDễ80% trả lời đúng
ATrong nền sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa
BTrong xã hội chiếm hữu nô lệ
CTrong nền sản xuất lớn hiện đại
Lời giải
Sức lao động trở thành hàng hoá phổ biến trong nền sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa. Trong nền sản xuất này, người lao động không còn là chủ sở hữu của sức lao động của mình mà phải bán sức lao động của mình cho chủ tư bản để có tiền sống. Chủ tư bản sử dụng sức lao động của người lao động để sản xuất hàng hoá và tạo ra lợi nhuận. Điều này dẫn đến việc sức lao động trở thành một hàng hoá có thể được mua bán và trao đổi trên thị trường lao động. Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, người lao động là tài sản của chủ nô và không có quyền bán sức lao động của mình. Trong nền sản xuất lớn hiện đại, người lao động có thể giữ được quyền sở hữu sức lao động của mình và không phải bán sức lao động cho chủ tư bản.
Mở trang câu hỏi này →
392Nguồn gốc của giá trị thặng dư có được từ đâu?4 lựa chọnDễ95% trả lời đúng
ATừ một loại hàng hoá đặc biệt mà giá trị của nó không những được bảo tồn mà còn tạo ra giá trị lớn hơn đó là hàng hoá sức lao động
BTừ quá trình mua đi bán lại hàng hoá
CTừ quá trình sản xuất hàng hoá
DTừ quá trình đầu cơ, tích trữ chờ đợi tăng giá của các nhà tư bản
Lời giải
Giá trị thặng dư là một khái niệm quan trọng trong kinh tế học Marx. Nó được định nghĩa là giá trị tạo ra bởi lao động của người lao động vượt quá giá trị của sản phẩm mà họ sản xuất. Nguồn gốc của giá trị thặng dư được giải thích bởi Marx là từ một loại hàng hóa đặc biệt, đó là hàng hóa sức lao động. Sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt vì nó không chỉ tạo ra giá trị cho sản phẩm mà còn tạo ra giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Điều này xảy ra vì người lao động không chỉ tạo ra sản phẩm mà còn tạo ra giá trị của sản phẩm thông qua lao động của mình. Giá trị thặng dư được tạo ra bởi sự chênh lệch giữa giá trị của sản phẩm và giá trị của sức lao động. Điều này cho thấy rằng giá trị thặng dư không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một kết quả của hệ thống sản xuất và phân phối hàng hóa.
Mở trang câu hỏi này →
393Sức lao động là:3 lựa chọnTrung bình67% trả lời đúng
AToàn bộ thể lực và trí lực trong một con người đang sống và được vận dụng để sản xuất ra giá trị sử dụng nào đó
BKhả năng lao động, được tiêu dùng trong quá trình sản xuất
CCác phương án trả lời đều đúng
Lời giải
Sức lao động là tổng thể của sức mạnh thể chất và trí tuệ mà con người có được trong quá trình sống và hoạt động. Nó được thể hiện qua khả năng lao động, được sử dụng trong quá trình sản xuất để tạo ra giá trị sử dụng. Sức lao động bao gồm cả sức mạnh thể chất và trí tuệ, được vận dụng để thực hiện các công việc sản xuất. Nó không chỉ là khả năng lao động đơn thuần mà còn là tổng thể của các yếu tố như sức khỏe, trí thông minh, kinh nghiệm và kỹ năng. Vì vậy, khi nói về sức lao động, chúng ta đang nói đến toàn bộ thể lực và trí lực của con người trong quá trình sản xuất.
Mở trang câu hỏi này →
394Tư bản cố định là:4 lựa chọnTrung bình60% trả lời đúng
ABộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới dạng máy móc, thiết bị, nhà xưởng... về hiện vật tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất, nhưng giá trị của nó bị khấu hao từng phần và được chuyển dần vào sản phẩm mới được sản xuất ra
BBộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới dạng nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu phụ, sức lao động... giá trị của nó lưu thông toàn bộ cùng với sản phẩm và được hoàn lại toàn bộ cho các nhà tư bản sau mỗi quá trình sản xuất
CBộ phận tư bản tiêu dùng tồn tại dưới dạng máy móc, thiết bị, nhà xưởng... về hiện vật tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất, nhưng giá trị của nó bị khấu hao từng phần và được chuyển dần vào sản phẩm mới được sản xuất ra
DBộ phận tư bản tiêu dùng tồn tại dưới dạng nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu phụ, sức lao động... giá trị của nó lưu thông toàn bộ cùng với sản phẩm và được hoàn lại toàn bộ cho các nhà tư bản sau mỗi quá trình sản xuất
Lời giải
Tư bản cố định là bộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới dạng máy móc, thiết bị, nhà xưởng... về hiện vật tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất. Tuy nhiên, giá trị của nó bị khấu hao từng phần và được chuyển dần vào sản phẩm mới được sản xuất ra. Điều này có nghĩa là giá trị của tư bản cố định không được hoàn lại toàn bộ cho các nhà tư bản sau mỗi quá trình sản xuất, mà được phân bổ dần vào các sản phẩm mới. Tư bản cố định thường bao gồm các thiết bị, máy móc, nhà xưởng, công nghệ và các tài sản khác có giá trị cao và được sử dụng trong quá trình sản xuất. Việc khấu hao tư bản cố định giúp phản ánh giá trị thực tế của nó trong quá trình sản xuất và đảm bảo rằng giá trị của nó được phân bổ một cách công bằng vào các sản phẩm mới.
Mở trang câu hỏi này →
ALực lượng sản xuất phát triển, nhiều ngành mới xuất hiện
BMục đích thu lợi nhuận độc quyền
CSự điều tiết của nhà nước
DNhiều ngành mới ra đời với những quan hệ sản xuất mới
Lời giải
Hình thức tổ chức và cơ chế thống trị của tư bản tài chính trong chủ nghĩa tư bản ngày nay thay đổi là do sự phát triển của lực lượng sản xuất. Khi lực lượng sản xuất phát triển, nhiều ngành mới xuất hiện và quan hệ sản xuất cũng thay đổi. Điều này dẫn đến sự thay đổi trong hình thức tổ chức và cơ chế thống trị của tư bản tài chính. Tư bản tài chính phải thích nghi với những thay đổi này để duy trì sự thống trị và tối đa hóa lợi nhuận.
Mở trang câu hỏi này →
396Giá cả độc quyền được hiểu là:3 lựa chọnKhó33% trả lời đúng
AGiá cả các tổ chức độc quyền áp đặt trong quá trình mua và bán
BGiá cả do các tổ chức nhà nước áp đặt quy định trong quá trình mua và bán
CGiá cả được các tổ chức doanh nghiệp chiếm thị phần lớn trên thị trường áp đặt và thông qua nhà nước đưa ra giá mua và bán
Lời giải
Giá cả độc quyền được hiểu là giá cả mà các tổ chức độc quyền áp đặt trong quá trình mua và bán. Tổ chức độc quyền thường là các doanh nghiệp có thị phần lớn trên thị trường, họ có thể tự do quyết định giá cả mà không bị kiểm soát từ bên ngoài. Điều này có thể dẫn đến việc tạo ra giá cả không công bằng, không phản ánh đúng giá trị thực tế của sản phẩm hoặc dịch vụ. Giá cả độc quyền thường được áp dụng trong các thị trường không có sự cạnh tranh mạnh mẽ, nơi mà các doanh nghiệp có thể tự do quyết định giá cả mà không bị ảnh hưởng từ các đối thủ cạnh tranh. Ví dụ, một doanh nghiệp có thể áp dụng giá cả độc quyền cho một sản phẩm đặc biệt hoặc một dịch vụ độc quyền.
Mở trang câu hỏi này →
397Xu hướng hiện nay của các tổ chức độc quyền đó là:4 lựa chọnTrung bình67% trả lời đúng
ATrở thành các công ty xuyên quốc gia và liên minh với nhà nước tư bản
BTrở thành các công ty độc quyền và tài trợ cho các nước kém phát triển
CTrở thành các công ty xuyên quốc gia và can thiệp vào chế độ chính trị ở các nước đang phát triển
DTrở thành các tập đoàn lớn
Lời giải
Xu hướng hiện nay của các tổ chức độc quyền đó là sự chuyển đổi sang các công ty xuyên quốc gia. Điều này có nghĩa là họ không chỉ hoạt động trong một quốc gia mà còn mở rộng sang các quốc gia khác trên toàn thế giới. Ngoài ra, họ cũng thường xuyên liên minh với các nhà nước tư bản để tăng cường sức mạnh và ảnh hưởng của mình. Điều này cho thấy sự thay đổi trong mô hình kinh doanh của các tổ chức độc quyền, từ việc tập trung vào hoạt động kinh doanh trong một quốc gia sang việc mở rộng sang các thị trường quốc tế.
Mở trang câu hỏi này →
AViện trợ kinh tế
BViện trợ quân sự
CViện trợ thuốc men
DViện trợ chính trị
Lời giải
Sau những năm 50 của thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang chính sách thực dân mới. Đây là một chiến lược để duy trì sự kiểm soát và ảnh hưởng đối với các quốc gia đang phát triển. Trong đó, có ba chính sách quan trọng: Viện trợ kinh tế, Viện trợ quân sự và Viện trợ chính trị. Viện trợ kinh tế bao gồm việc cung cấp vốn, kỹ thuật và công nghệ để phát triển kinh tế của quốc gia nhận viện trợ. Viện trợ quân sự liên quan đến việc cung cấp vũ khí, trang thiết bị và đào tạo quân sự để tăng cường khả năng quân sự của quốc gia nhận viện trợ. Viện trợ chính trị bao gồm việc hỗ trợ cho các chính phủ thân thiện, thúc đẩy quan hệ đối tác và tăng cường ảnh hưởng chính trị của quốc gia viện trợ. Những chính sách này đã được sử dụng rộng rãi trong lịch sử để duy trì sự thống trị của chủ nghĩa tư bản và kiểm soát các quốc gia đang phát triển.
Mở trang câu hỏi này →
AQuy luật lợi nhuận bình quân
BQuy luật lợi nhuận độc quyền
CQuy luật lợi nhuận
DQuy luật giá cả sản xuất
Lời giải
Quy luật giá trị thặng dư trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền thể hiện qua quy luật lợi nhuận độc quyền. Trong giai đoạn này, các doanh nghiệp độc quyền có khả năng kiểm soát thị trường và định giá sản phẩm của mình. Do đó, lợi nhuận của họ không còn bị giới hạn bởi quy luật lợi nhuận bình quân như trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản cạnh tranh. Thay vào đó, lợi nhuận của họ phụ thuộc vào khả năng định giá độc quyền và khả năng kiểm soát thị trường. Điều này dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo và sự tập trung tài sản vào tay một số ít người giàu có.
Mở trang câu hỏi này →
400Sự phát triển của tư bản tài chính dẫn đến sự hình thành của:4 lựa chọnTrung bình69% trả lời đúng
ACác nhà tài phiệt
BCác tập đoàn tài chính
CCác doanh nghiệp tư nhân
DCác công ty mẹ
Lời giải
Sự phát triển của tư bản tài chính dẫn đến sự hình thành của các nhà tài phiệt. Tư bản tài chính là một loại tư bản mà chủ yếu tập trung vào việc đầu tư, quản lý và kiếm lợi nhuận từ các hoạt động tài chính như cho vay, đầu tư chứng khoán, quản lý tài sản... Khi tư bản tài chính phát triển, các nhà đầu tư giàu có và có kinh nghiệm sẽ hình thành các tập đoàn tài chính lớn, nắm giữ và kiểm soát các tài sản tài chính. Những tập đoàn này sẽ trở thành các nhà tài phiệt, có quyền lực và ảnh hưởng lớn trong nền kinh tế.
Mở trang câu hỏi này →
401Thể chế được hiểu là:3 lựa chọnDễ100% trả lời đúng
ANhững quy tắc, pháp luật, bộ máy quản lí và cơ chế vận hành nhằm điều chỉnh các hoạt động của con người trong 1 chế độ xã hội
B"Luật chơi" chính thức và phi chính thức được đặt ra đối với các chủ thể tham gia hoạt động trong nền kinh tế của một quốc gia trong một giai đoạn lịch sử nhất định
CĐược cấu thành bởi hệ thống các bộ phận khác nhau mà mỗi bộ phận cũng là một hệ thống phức tạp gồm nhiều yếu tố
Lời giải
Thể chế được hiểu là hệ thống quy tắc, pháp luật, bộ máy quản lý và cơ chế vận hành nhằm điều chỉnh các hoạt động của con người trong một chế độ xã hội. Nó bao gồm các quy định, luật lệ và quy trình được thiết lập để đảm bảo trật tự và ổn định trong xã hội. Thể chế có thể được hình thành từ các nguồn khác nhau, bao gồm các quy định của pháp luật, các quy tắc xã hội, các truyền thống và tập quán. Mục tiêu của thể chế là tạo ra một môi trường ổn định và an toàn cho các hoạt động của con người, đồng thời đảm bảo rằng các quyền và lợi ích của các cá nhân và nhóm được bảo vệ. Thể chế có thể thay đổi theo thời gian và phụ thuộc vào các yếu tố như lịch sử, văn hóa và kinh tế của một quốc gia.
Mở trang câu hỏi này →
AThu hút vốn đầu tư nước ngoài, thu hút công nghệ hiện đại
BHọc hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến của thế giới
CKhai thác thị trường thế giới để tiêu thụ các sản phẩm mà nước ta có nhiều lợi thế và khả năng cạnh tranh cao
DTất cả các phương án trên
Lời giải
Hội nhập kinh tế quốc tế và mở rộng kinh tế đối ngoại là quá trình một quốc gia tham gia vào thị trường và hệ thống kinh tế toàn cầu. Mục tiêu chính của việc này là thu hút vốn đầu tư nước ngoài và công nghệ hiện đại để thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Đồng thời, các quốc gia cũng học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến của thế giới để áp dụng vào hệ thống quản lý của mình. Ngoài ra, hội nhập kinh tế quốc tế còn giúp khai thác thị trường thế giới để tiêu thụ các sản phẩm mà nước ta có nhiều lợi thế và khả năng cạnh tranh cao. Vì vậy, hội nhập kinh tế quốc tế và mở rộng kinh tế đối ngoại là một quá trình toàn diện bao gồm các phương án trên.
Mở trang câu hỏi này →
AGiao thông vận tải và thông tin liên lạc
BKết cấu hạ tầng và viễn thông
CNăng lượng điện và năng lượng hóa thạch
DTất cả phương án trên
Lời giải
Cách mạng công nghiệp lần thứ hai đã tạo ra những tiến bộ vượt bậc trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong đó, giao thông vận tải và thông tin liên lạc đã trải qua những thay đổi đáng kể. Công nghệ điện và cơ khí đã giúp phát triển các phương tiện giao thông như xe lửa, xe ô tô và máy bay, làm cho việc di chuyển trở nên nhanh chóng và dễ dàng hơn. Đồng thời, công nghệ viễn thông cũng đã phát triển mạnh mẽ, giúp tăng cường khả năng liên lạc qua lại giữa các cá nhân và tổ chức.
Mở trang câu hỏi này →
ANgười bán và người mua, phân bổ nguồn lực kinh tế đạt được hiệu quả xã hội lớn nhất mà không cần sự can thiệp của chính phủ
BMô tả khả năng của cơ chế thị trường trong việc điều chỉnh cung cầu trên thị trường.
CCác cá nhân tham gia muốn tối đa hóa lợi nhuận cho mình
DMọi người đều bị bàn tay vô hình dẫn tới kết quả làm lợi cho chính mình
Lời giải
Lý thuyết bàn tay vô hình của Adam Smith là một khái niệm kinh tế học mô tả cách cơ chế thị trường tự động điều chỉnh và đạt được hiệu quả xã hội tối đa mà không cần sự can thiệp của chính phủ. Theo lý thuyết này, khi các cá nhân tham gia vào thị trường kinh tế, họ đều muốn tối đa hóa lợi nhuận cho mình. Tuy nhiên, quá trình này không chỉ dừng lại ở việc các cá nhân chỉ quan tâm đến lợi ích của mình mà còn tạo ra một hệ quả xã hội tích cực. Bàn tay vô hình của Adam Smith là một biểu tượng cho khả năng tự điều chỉnh của cơ chế thị trường trong việc phân bổ nguồn lực kinh tế một cách hiệu quả. Nó cho thấy rằng, khi các cá nhân được tự do hoạt động trên thị trường, họ sẽ tự động tạo ra một kết quả tốt nhất cho xã hội mà không cần sự can thiệp của chính phủ.
Mở trang câu hỏi này →