MLN111 - Phần 1: Triết học và vấn đề cơ bản của triết học · trang 8 / 8
Câu hỏi trong chủ đề
Câu 85 – 94 trong 94 câuADuy tâm khách quan
BDuy vật biện chứng
CDuy vật siêu hình
DDuy vật chất phác
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Đáp án đúng: "Duy vật chất phác".
Nhận định này nói về chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại: tuy còn mang tính trực quan, ngây thơ, quy vật chất về một hay vài dạng cụ thể như nước, lửa, không khí, nguyên tử, nhưng VỀ CƠ BẢN LÀ ĐÚNG vì đã lấy chính giới tự nhiên để giải thích giới tự nhiên, không cầu đến Thần linh như tôn giáo. Chính cụm "về cơ bản là đúng" cho thấy đây là một hình thức còn nhiều hạn chế chứ không phải hình thức hoàn chỉnh.
"Duy vật biện chứng" là hình thức cao nhất, do C. Mác và Ph. Ăngghen xây dựng, được đánh giá là đúng đắn và triệt để chứ không ai nói nó chỉ "về cơ bản là đúng".
"Duy vật siêu hình" cũng lấy tự nhiên giải thích tự nhiên nhưng điểm được nhắc tới khi đánh giá nó là phương pháp nhìn thế giới rời rạc, tĩnh tại, không phải công lao gạt bỏ Thần linh.
"Duy tâm khách quan" đi ngược hẳn: nó đặt một thực thể tinh thần bên ngoài làm nguồn gốc thế giới, tức là vẫn viện đến một đấng sáng tạo dưới dạng khác.
Triết học ra đời từ đâu?4 lựa chọn
ATừ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn
BTừ sự tư duy của con người về bản thân mình
CTừ sự vận động của ý muốn chủ quan của con người
DTừ thực tiễn, do sự phát triển của khoa học kỹ thuật
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Đáp án đúng: "Từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn".
Triết học không phải sản phẩm của tư duy thuần tuý mà nảy sinh từ nhu cầu giải thích và cải tạo thế giới của con người, trên nền sản xuất đã phát triển tới mức cho phép một bộ phận chuyên làm lao động trí óc.
"Từ sự tư duy của con người về bản thân mình" chỉ nêu được một phần nội dung suy tư, bỏ mất cái gốc vật chất là thực tiễn.
"Từ sự vận động của ý muốn chủ quan của con người" là cách giải thích duy tâm, coi triết học là sản phẩm của ý muốn.
"Từ thực tiễn, do sự phát triển của khoa học kỹ thuật" nêu đúng vế đầu nhưng sai vế sau: triết học ra đời từ thế kỷ VIII - VI trước Công nguyên, khi khoa học kỹ thuật theo nghĩa hiện đại chưa hình thành.
ADo sự phát triển của lực lượng sản xuất
BCách mạng nổ ra, những tộc người tan rã
CGắn liền với các hiện tượng xã hội là lao động trí óc đã tách khỏi lao động chân tay
DPhân tích đúng tình hình trên toàn thế giới, sản xuất phát triển
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Đáp án đúng: "Gắn liền với các hiện tượng xã hội là lao động trí óc đã tách khỏi lao động chân tay".
Nguồn gốc XÃ HỘI của triết học là sự phân công lao động đạt tới mức lao động trí óc tách khỏi lao động chân tay, xã hội phân chia giai cấp, nhờ đó mới có tầng lớp chuyên hoạt động tư duy lý luận.
"Do sự phát triển của lực lượng sản xuất" là điều kiện nền, đúng nhưng còn chung; chính sự phát triển ấy phải dẫn tới phân công lao động trí óc thì triết học mới ra đời được.
"Cách mạng nổ ra, những tộc người tan rã" không phải điều kiện ra đời của triết học mà là biến cố lịch sử rời rạc.
"Phân tích đúng tình hình trên toàn thế giới, sản xuất phát triển" là một mệnh đề lắp ghép, không nêu được nguồn gốc xã hội nào.
APhương Tây
BPhương Đông
CẤn Độ
DHy Lạp - La Mã
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Đáp án đúng: "Hy Lạp - La Mã".
Ở Hy Lạp - La Mã cổ đại, triết học bao trùm mọi tri thức về tự nhiên, nên được gọi là triết học tự nhiên; các khoa học cụ thể khi ấy chưa tách ra mà nằm trong lòng triết học.
"Phương Tây" quá rộng: nó gồm cả triết học Tây Âu Trung cổ gắn với thần học và triết học cận đại đã tách khỏi khoa học tự nhiên.
"Phương Đông" đi theo mạch khác hẳn, nặng về nhân sinh quan, đạo đức và chính trị - xã hội.
"Ấn Độ" là nơi triết học gắn liền với tôn giáo và giải thoát tâm linh, không mang dáng dấp triết học tự nhiên.
ACon đường suy ngẫm để dẫn dắt con người tới lẽ phải
BCon đường tu tập
CCon đường giải thoát
DCon đường giác ngộ
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Đáp án đúng: "Con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người tới lẽ phải".
Ở Ấn Độ cổ đại, triết học được gọi bằng thuật ngữ mang nghĩa chiêm nghiệm, suy ngẫm để đi tới chân lý và lẽ phải — nhấn mạnh con đường của trí tuệ.
"Con đường tu tập" là cách nói của thực hành tôn giáo, chú trọng rèn luyện thân tâm chứ không phải suy ngẫm nhận thức.
"Con đường giải thoát" là mục đích tối hậu của nhiều học thuyết tôn giáo Ấn Độ, tức là cái đích chứ không phải định nghĩa của triết học.
"Con đường giác ngộ" là thuật ngữ đặc trưng của Phật giáo, chỉ trạng thái bừng tỉnh, cũng là đích chứ không phải phương thức suy ngẫm.
ABản thể luận và nhận thức luận
BKhả tri luận và bất khả tri luận
CLý luận duy vật và lý luận duy tâm
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Đáp án đúng: "Bản thể luận và nhận thức luận".
Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt: mặt thứ nhất hỏi giữa vật chất và ý thức cái nào có trước, cái nào quyết định — đó là mặt bản thể luận; mặt thứ hai hỏi con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không — đó là mặt nhận thức luận.
"Khả tri luận và bất khả tri luận" là hai cách TRẢ LỜI cho mặt thứ hai, không phải hai mặt của vấn đề.
"Lý luận duy vật và lý luận duy tâm" là hai cách trả lời cho mặt thứ nhất, cũng là kết quả chứ không phải cấu trúc của vấn đề.
AThế giới quan tiền tệ
BThế giới quan tôn giáo
CThế giới quan nhân sinh
DThế giới quan pháp luật
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Đáp án đúng: "Thế giới quan tôn giáo".
Thế giới quan phát triển qua các hình thức nối tiếp: huyền thoại, rồi tôn giáo, rồi mới tới triết học. Tôn giáo là hình thức ngay trước triết học, giải thích thế giới bằng niềm tin vào lực lượng siêu nhiên.
"Thế giới quan nhân sinh" không phải một hình thức thế giới quan trong cách phân loại này; nhân sinh quan là một bộ phận NẰM TRONG thế giới quan.
"Thế giới quan pháp luật" và "Thế giới quan tiền tệ" đều không tồn tại như những hình thức thế giới quan; pháp luật và tiền tệ là những hiện tượng xã hội cụ thể, không phải hệ thống quan niệm chung về thế giới.
Thuyết có thể biết còn gọi là gì?4 lựa chọn
AThuyết nhận biết
BThuyết khả tri
CThuyết bất khả tri
DThuyết nhận biết luận
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Đáp án đúng: "Thuyết khả tri".
Thuyết khả tri khẳng định con người có khả năng nhận thức được thế giới — "khả tri" nghĩa là có thể biết.
"Thuyết bất khả tri" là học thuyết đối lập, cho rằng con người không thể nhận thức được bản chất sự vật.
"Thuyết nhận biết" và "Thuyết nhận biết luận" đều không phải thuật ngữ triết học; chúng chỉ là những cách ghép từ nghe giống nhưng không tồn tại trong hệ thống khái niệm.
AKhi quyền lực của nhà nước bao trùm mọi lĩnh vực đời sống xã hội
BKhi xuất hiện phong trào cải cách văn hóa phục hưng
CKhi quyền lực của giáo hội bao trùm mọi lĩnh vực đời sống xã hội
DKhi các cuộc cách mạng tư sản nổ ra
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Đáp án đúng: "Khi quyền lực của giáo hội bao trùm mọi lĩnh vực đời sống xã hội".
Ở Tây Âu Trung cổ, giáo hội nắm cả quyền lực tinh thần lẫn thế tục, triết học bị buộc phải phục vụ việc luận chứng cho giáo lý — vì thế mới có cách gọi triết học là nữ tì của thần học.
"Khi quyền lực của nhà nước bao trùm mọi lĩnh vực đời sống xã hội" nhầm chủ thể: thứ chi phối triết học thời kỳ ấy là giáo hội chứ không phải nhà nước thế tục.
"Khi xuất hiện phong trào cải cách văn hóa phục hưng" là thời kỳ triết học bắt đầu THOÁT khỏi thần học, ngược hẳn.
"Khi các cuộc cách mạng tư sản nổ ra" lại càng muộn, khi triết học đã trở thành vũ khí tư tưởng chống lại thần quyền.
ADo sự phát triển của lực lượng sản xuất
BCách mạng nổ ra, những tộc người tan rã
CLao động trí óc tách rời lao động chân tay
DPhân tích đúng tình hình trên toàn thế giới, sản xuất phát triển
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Đáp án đúng: "Lao động trí óc tách rời lao động chân tay".
Đây là nguồn gốc xã hội của triết học: chỉ khi phân công lao động phát triển tới mức có một tầng lớp chuyên làm lao động trí óc, và xã hội đã phân chia giai cấp, thì tư duy lý luận mới có điều kiện hình thành thành hệ thống.
"Do sự phát triển của lực lượng sản xuất" là tiền đề vật chất chung, chưa phải hiện tượng xã hội trực tiếp sinh ra triết học.
"Cách mạng nổ ra, những tộc người tan rã" là biến cố lịch sử, không phải điều kiện xã hội của triết học.
"Phân tích đúng tình hình trên toàn thế giới, sản xuất phát triển" không mô tả một nguồn gốc nào, chỉ là mệnh đề ghép rời rạc.
Đề có câu hỏi của chủ đề này
3 đề chứa ít nhất một câu thuộc chủ đề — mở đề để làm cả bộ, không chỉ từng câu.
Cập nhật 31 ngày trước
MLN111 Triết học Mác - Lê-nin – Bộ ôn tập cuối kỳ số 1 (60 câu)
Luyện tậpFE
Tổng hợp cả môn
60 câu
Cập nhật 4 ngày trước
MLN111 Triết học Mác - Lê-nin – Bộ ôn tập cuối kỳ số 3 (60 câu)
Luyện tậpFE
Tổng hợp cả môn
60 câu
Cập nhật 4 ngày trước
MLN111 Triết học Mác - Lê-nin – Bộ ôn tập cuối kỳ số 2 (60 câu)
Luyện tậpFE
Tổng hợp cả môn
60 câu
Đi tiếp từ đây