Câu hỏi: IIP301 Thanh toán quốc tế – Bộ ôn tập cuối kỳ số 1
50 câu trắc nghiệm kèm lời giải của môn International Payment, xếp đúng thứ tự trong đề.
Danh sách câu hỏi
20/50 câuCòn 30
1Why does an exporter like to get a confirmed letter of credit than an unconfirmed letter of credit?3 lựa chọn
ABecause confirmed letter of credit carry the commitment to pay of both the issuing bank and the confirming bank.
BBecause the confirming bank will pay even if the issuing bank cannot or will not honor the draft for any reason whatever.
CAll of the others
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Đáp án đúng: "All of the others". Thư tín dụng xác nhận (confirmed letter of credit) là thư tín dụng mà ngoài cam kết của ngân hàng phát hành (issuing bank) còn có cam kết thanh toán độc lập của ngân hàng xác nhận (confirming bank); theo UCP 600 Điều 8, khi bộ chứng từ xuất trình phù hợp (complying presentation), ngân hàng xác nhận phải thanh toán hoặc chiết khấu miễn truy đòi, không phụ thuộc việc ngân hàng phát hành có trả được hay không. Nhờ vậy người xuất khẩu có hai bên cam kết trả tiền thay vì một, được che chắn cả rủi ro tín dụng của ngân hàng phát hành lẫn rủi ro quốc gia ở nước người mua. Phát biểu "Because confirmed letter of credit carry the commitment to pay of both the issuing bank and the confirming bank." đúng vì nêu được cam kết kép, nhưng mới là một mặt của lý do nên chọn riêng nó là chưa đủ. Phát biểu "Because the confirming bank will pay even if the issuing bank cannot or will not honor the draft for any reason whatever." cũng đúng, với điều kiện chứng từ phù hợp, vì cam kết xác nhận tách rời khả năng trả tiền của ngân hàng phát hành; nhưng nó cũng chỉ nêu một mặt. Hai lý do bổ sung cho nhau nên phương án gộp là câu trả lời đầy đủ nhất.
AMaximum USD50,000
BMaximum USD40,000
CMaximum USD75,000
DMaximum USD35,000
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Đáp án đúng: "Maximum USD50,000". Thư tín dụng tuần hoàn (revolving L/C) tự khôi phục giá trị theo từng kỳ; loại không tích luỹ (non-cumulative) nghĩa là phần chưa dùng hết của kỳ trước bị huỷ, không cộng dồn sang kỳ sau. Vì vậy dù tháng đầu chỉ dùng 40.000 USD và tháng hai dùng 35.000 USD, sang tháng ba hạn mức vẫn chỉ trở về đúng 50.000 USD. Con số "Maximum USD75,000" là kết quả nếu thư tín dụng là loại tích luỹ (cumulative): 10.000 USD còn thừa của tháng đầu cộng 15.000 USD của tháng hai được chuyển sang, nâng hạn mức tháng ba lên 75.000 USD, điều mà điều khoản không tích luỹ loại trừ. "Maximum USD40,000" chỉ lặp lại số tiền đã dùng ở tháng đầu, không phải hạn mức của kỳ mới. "Maximum USD35,000" cũng lấy nhầm số đã dùng của tháng hai làm giới hạn, trong khi mức dùng của kỳ trước không làm giảm hạn mức kỳ sau.
ACourt
BArbitration
CChamber of commerce
DIndustry association
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Đáp án đúng: "Arbitration". Trọng tài (arbitration) là cách giải quyết tranh chấp mà hai bên thoả thuận, thường bằng điều khoản trọng tài ngay trong hợp đồng mua bán, giao cho một bên thứ ba trung lập ra phán quyết có giá trị ràng buộc. Nó mang tính trung lập vì không bên nào phải ra toà án nội địa của nước đối phương, và phán quyết trọng tài nước ngoài thường dễ được công nhận, thi hành hơn bản án toà án nước ngoài nhờ Công ước New York 1958. "Court" sai vì toà án là cơ quan tài phán của một quốc gia, bên kia phải chịu luật tố tụng và thẩm quyền của nước đó, đúng điều mà câu hỏi nói là muốn tránh. "Chamber of commerce" sai vì phòng thương mại là tổ chức đại diện doanh nghiệp; một số phòng thương mại có lập trung tâm trọng tài, nhưng bản thân nó không phải là phương thức giải quyết tranh chấp. "Industry association" sai vì hiệp hội ngành nghề chỉ hỗ trợ, hoà giải không chính thức giữa hội viên, không có cơ chế phán quyết ràng buộc được thi hành quốc tế.
AThe US dollar (USD), Euro and the Japanese yen (JPY)
BEuro and the RMB
CSingapore Dollar (SGD) and the Japanese yen (JPY)
DVietnam dong (VND), Malaysian Ringgit (MYR)
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Đáp án đúng: "Vietnam dong (VND), Malaysian Ringgit (MYR)". Tiền tệ được dùng rộng rãi trong thanh toán quốc tế là đồng tiền tự do chuyển đổi, có thị trường ngoại hối sâu và được nhiều nước dùng làm tiền định giá, thanh toán và dự trữ. Đồng Việt Nam và ringgit Malaysia chủ yếu dùng trong nước, khả năng chuyển đổi bị quản lý, nên hợp đồng ngoại thương hiếm khi định giá bằng chúng. "The US dollar (USD), Euro and the Japanese yen (JPY)" là nhóm ngược lại: đô la Mỹ, euro và yên Nhật là những đồng tiền thanh toán và dự trữ hàng đầu thế giới. "Euro and the RMB" cũng không đúng vì euro là đồng tiền quốc tế lớn thứ hai, còn nhân dân tệ đã nằm trong rổ quyền rút vốn đặc biệt (SDR) của IMF và ngày càng được dùng trong thương mại với Trung Quốc. "Singapore Dollar (SGD) and the Japanese yen (JPY)" sai vì yên Nhật là đồng tiền chủ chốt, đô la Singapore tự do chuyển đổi và được dùng nhiều ở trung tâm tài chính khu vực.
AInsurance
BQuantity of goods
CSales of goods
DOrigin of goods
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Đáp án đúng: "Insurance". Khi hợp đồng quy định người mua chịu chi phí kể từ cửa kho người bán (kiểu EXW) hoặc từ cảng xếp hàng ở nước người bán (kiểu FOB, FCA), thì theo Incoterms 2020 rủi ro về hàng cũng chuyển sang người mua từ điểm đó, nên người mua phải tự lo bảo hiểm hàng hoá (insurance) cho chặng vận chuyển chính: mua ở đâu, điều kiện bảo hiểm nào, phí bao nhiêu. Chỉ ở CIF và CIP người bán mới có nghĩa vụ mua bảo hiểm cho người mua. "Quantity of goods" sai vì số lượng hàng là điều khoản cơ bản do hai bên thoả thuận ngay từ đầu, không phải một chi phí phát sinh theo điểm chuyển giao như câu mô tả. "Sales of goods" sai vì đó là chính giao dịch mua bán, không phải một khoản chi phí mà người mua phải gánh từ cửa kho người bán. "Origin of goods" sai vì xuất xứ hàng hoá liên quan tới thuế quan và giấy chứng nhận xuất xứ, không phụ thuộc người mua chịu chi phí từ điểm nào.
6Surplus balance of trade means4 lựa chọn
Avalue of imports > value of exports
Bvalue of exports > value of imports
Cprice of exports > price of imports
Dquantity of exports > quantity of imports
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Đáp án đúng: "value of exports > value of imports". Cán cân thương mại (balance of trade) đo chênh lệch giữa tổng giá trị hàng xuất khẩu và tổng giá trị hàng nhập khẩu của một quốc gia trong một thời kỳ; thặng dư (surplus) xảy ra khi giá trị xuất khẩu lớn hơn giá trị nhập khẩu, còn thâm hụt (deficit) là trường hợp ngược lại. "value of imports > value of exports" chính là định nghĩa của thâm hụt thương mại, trái với thặng dư. "price of exports > price of imports" chỉ so sánh đơn giá, mà giá xuất khẩu cao hơn chưa chắc làm tổng giá trị xuất khẩu lớn hơn nếu lượng bán ra ít; tương quan giá xuất và giá nhập là khái niệm tỷ giá thương mại (terms of trade), không phải cán cân thương mại. "quantity of exports > quantity of imports" chỉ so sánh khối lượng, trong khi hàng hoá khác nhau có giá rất khác nhau nên lượng xuất nhiều hơn không cho biết quốc gia thu về nhiều tiền hơn.
AImporter
BExporter
CSeller
DExporter’s Bank
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Đáp án đúng: "Importer". Người nhập khẩu (importer) là bên phải trả tiền, nên họ muốn trả bằng đồng nội tệ của mình để khỏi chịu rủi ro tỷ giá, hoặc nếu phải dùng ngoại tệ thì chọn đồng tiền dự kiến mất giá trong khoảng từ ngày ký hợp đồng tới ngày thanh toán: khi đồng tiền đó giảm giá, số nội tệ họ bỏ ra để mua đủ khoản ngoại tệ phải trả sẽ ít đi. Rủi ro tỷ giá luôn nằm ở bên phải đổi tiền. "Exporter" sai vì người xuất khẩu là bên nhận tiền, họ muốn được trả bằng nội tệ của họ hoặc bằng đồng tiền dự kiến lên giá, ngược hẳn với người nhập khẩu. "Seller" sai vì người bán chính là người xuất khẩu trong giao dịch quốc tế, có cùng lợi ích ngược chiều như vừa nêu. "Exporter’s Bank" sai vì ngân hàng bên xuất khẩu chỉ phục vụ người bán (thông báo, chiết khấu, thu hộ), không phải bên trả tiền hàng nên không có nhu cầu chọn đồng tiền thanh toán theo hướng đó.
AImporter
BExporter
CProducer
DBanker
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Đáp án đúng: "Exporter". Người xuất khẩu (exporter) muốn giảm trách nhiệm và chi phí của mình, nên thường ưa giao hàng ngay tại kho của mình hoặc tại cảng địa phương nước mình và để người mua chịu cước vận tải, bảo hiểm cùng rủi ro trên hành trình; về giao hàng, rủi ro và chi phí, đó là tinh thần của các điều kiện nhóm E và F trong Incoterms 2020 như EXW, FCA, FOB. Riêng vế chuyển quyền sở hữu mà câu hỏi nhắc tới không do Incoterms quy định, mà do hợp đồng mua bán và luật áp dụng điều chỉnh. "Importer" có mong muốn ngược lại: người nhập khẩu muốn người bán chịu chi phí vận tải, bảo hiểm và giao hàng tới một điểm ở nước người mua, giống các điều kiện nhóm D. "Producer" là người làm ra hàng, có thể không phải bên ký hợp đồng mua bán quốc tế nên câu này không mô tả lợi ích của họ. "Banker" là ngân hàng, đóng vai trò trung gian thanh toán và tài trợ, không phải bên giao hàng hay chuyển quyền sở hữu hàng hoá.
AOpen account
BDocument against payment (D/P)
CCash in advance
DDocumentary credit
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Đáp án đúng: "Open account". Trong ghi sổ (open account), người bán giao hàng và chuyển chứng từ thẳng cho người mua trước, người mua chỉ trả tiền sau một kỳ hạn thoả thuận (thường 30, 60, 90 ngày); người mua nhận và kiểm tra được hàng rồi mới trả, nên đây là phương thức ít rủi ro nhất cho người mua và rủi ro nhất cho người bán. "Document against payment (D/P)" sai vì trong nhờ thu trả tiền đổi chứng từ, người mua phải trả tiền cho ngân hàng xuất trình mới nhận được chứng từ, tức trả trước khi thấy hàng, nên rủi ro của họ cao hơn ghi sổ. "Cash in advance" sai vì trả tiền trước là phương thức rủi ro nhất cho người mua: tiền đã đi mà chưa chắc người bán giao hàng đúng. "Documentary credit" sai vì với thư tín dụng, người mua phải ký quỹ hoặc dùng hạn mức tín dụng để mở thư tín dụng, và ngân hàng chỉ kiểm tra chứng từ chứ không kiểm tra hàng, nên người mua vẫn có thể phải trả cho hàng kém chất lượng nếu chứng từ phù hợp.
ACash in advance
BDocumentary collection
COpen account
DDocumentary credit
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Đáp án đúng: "Open account". Ghi sổ (open account) là phương thức người bán giao hàng và gửi chứng từ thẳng cho người mua trước, rồi người mua mới thanh toán vào một thời điểm đã thoả thuận sau đó. Người mua được nhận hàng, kiểm hàng rồi mới trả tiền nên an toàn và linh hoạt nhất, còn người bán không có ngân hàng nào đứng ra cam kết, nên chịu rủi ro lớn nhất là người mua chậm trả hoặc không trả. "Cash in advance" là trường hợp ngược hẳn: người mua trả tiền trước khi nhận hàng, nên người bán an toàn nhất và người mua chịu rủi ro. "Documentary collection" ở mức trung gian, vì ngân hàng giữ chứng từ và chỉ giao khi người mua trả tiền (D/P) hoặc chấp nhận hối phiếu (D/A), tuy ngân hàng không cam kết trả thay. "Documentary credit" cho người bán sự bảo đảm cao vì ngân hàng phát hành cam kết thanh toán khi có bộ chứng từ phù hợp.
Adocumentary against payment
Bdocumentary against acceptance
Ccash in advance
Dopen account
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Đáp án đúng: "documentary against acceptance". Trong nhờ thu chấp nhận đổi chứng từ (documents against acceptance, viết tắt D/A), ngân hàng thu hộ (collecting bank) được trao chứng từ cho người mua ngay khi người mua ký chấp nhận hối phiếu có kỳ hạn (time draft), tức cam kết trả vào một ngày sau đó như 30, 60 hay 90 ngày. Người mua lấy được hàng trước khi trả tiền, còn người bán chỉ cầm một hối phiếu đã chấp nhận, nên rủi ro người mua không trả khi đáo hạn nằm ở người bán. "documentary against payment" sai vì ở nhờ thu trả tiền đổi chứng từ, người mua phải trả tiền ngay mới được nhận chứng từ, không có bước ký chấp nhận để trả sau. "cash in advance" sai vì trả tiền trước không có hối phiếu hay chứng từ đi qua ngân hàng thu hộ; tiền đi trước khi giao hàng. "open account" sai vì ở ghi sổ chứng từ gửi thẳng cho người mua, không qua ngân hàng và không cần chấp nhận hối phiếu.
AYour own currency
BBuyer’s currency
CThird party’s currency
DNone of these
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Đáp án đúng: "Your own currency". Rủi ro ngoại hối phát sinh khi khoản tiền thu về được định giá bằng một đồng tiền khác với đồng tiền mà doanh nghiệp dùng để tính chi phí và lợi nhuận. Nếu người bán yêu cầu thanh toán bằng chính đồng nội tệ của mình thì số tiền thu được đã cố định theo đơn vị của họ, rủi ro biến động tỷ giá chuyển hết sang người mua; đây là cách đơn giản nhất vì không cần hợp đồng kỳ hạn hay quyền chọn. "Buyer’s currency" khiến người bán phải đổi ngoại tệ thu được sang nội tệ, nên chính người bán gánh rủi ro tỷ giá. "Third party’s currency" còn bất lợi hơn với cả hai bên, vì cả người bán lẫn người mua đều phải quy đổi qua một đồng tiền thứ ba và cùng chịu rủi ro tỷ giá. "None of these" không đúng vì đã có một cách đơn giản và đúng ngay trong các phương án.
ADelivery provision
BPrice provision
CPayment provision
DArbitration provision
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Đáp án đúng: "Delivery provision". Điều khoản giao hàng (delivery provision) của hợp đồng mua bán quốc tế quy định thời gian giao hàng (ngày giao hoặc hạn chót giao, ngày nhận hàng), địa điểm giao, phương thức và điều kiện giao hàng theo Incoterms, cùng việc có cho giao từng phần hay chuyển tải hay không. Khi thanh toán bằng thư tín dụng, ngày giao hàng muộn nhất trong hợp đồng thường được chép thành latest shipment date trên thư tín dụng. "Price provision" sai vì điều khoản giá quy định đơn giá, tổng giá, đồng tiền tính giá và cách xác định giá, không nói tới thời điểm gửi hàng. "Payment provision" sai vì điều khoản thanh toán quy định phương thức, thời hạn, đồng tiền thanh toán và bộ chứng từ phải xuất trình để được trả tiền, không phải ngày giao hàng. "Arbitration provision" sai vì điều khoản trọng tài chỉ quy định cơ quan, luật áp dụng và thủ tục giải quyết tranh chấp nếu phát sinh.
ACFR
BFCA
CFOB
DFAS
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Đáp án đúng: "CFR". Theo Incoterms 2020, CFR (Cost and Freight, tiền hàng và cước) là điều kiện chỉ dùng cho vận tải biển và thuỷ nội địa: người bán giao hàng khi hàng đã được xếp lên tàu tại cảng bốc, làm thủ tục thông quan xuất khẩu và trả cước tới cảng đích chỉ định, nhưng rủi ro chuyển sang người mua ngay từ lúc hàng lên tàu ở cảng đi. Điểm tách rời giữa nơi chuyển rủi ro và nơi chi phí kết thúc là đặc trưng của nhóm C, khớp với mô tả trong câu. "FCA" là giao cho người chuyên chở do người mua chỉ định tại một địa điểm, và người mua trả cước chặng chính. "FOB" cũng chuyển rủi ro khi hàng lên tàu ở cảng bốc nhưng người mua tự thuê tàu và trả cước, nên người bán không trả cước tới cảng đích. "FAS" chỉ yêu cầu người bán đặt hàng dọc mạn tàu tại cảng bốc, chưa xếp lên tàu và không trả cước.
ASeller must pay the costs and freight necessary to bring the goods to the named port of destination, but the risks of loss or damage, as well as any additional costs due to events occurring after the time of delivery, are transferred from seller to buyer.
BThe seller must clear for import in buyer’s country.
CThe seller must take the risks of loss or damage until the goods arrived at port of destination.
DThe seller has an obligation to cover the insurance of goods.
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Đáp án đúng: "Seller must pay the costs and freight necessary to bring the goods to the named port of destination, but the risks of loss or damage, as well as any additional costs due to events occurring after the time of delivery, are transferred from seller to buyer.". CFR (Cost and Freight, tiền hàng và cước phí) trong Incoterms 2020 là điều kiện "hai điểm": người bán thuê tàu và trả cước tới cảng đến chỉ định, nhưng giao hàng và chuyển rủi ro ngay khi hàng được xếp lên tàu tại cảng xếp hàng; từ đó mọi rủi ro mất mát, hư hỏng và chi phí phát sinh thêm do sự kiện xảy ra sau thời điểm giao thuộc về người mua. "The seller must clear for import in buyer’s country." sai vì dưới CFR người bán chỉ làm thủ tục xuất khẩu, còn thông quan nhập khẩu do người mua làm; chỉ DDP mới buộc người bán thông quan nhập khẩu. "The seller must take the risks of loss or damage until the goods arrived at port of destination." sai vì rủi ro đã chuyển ở cảng đi lúc hàng lên tàu, không phải khi hàng tới cảng đến như nhóm D. "The seller has an obligation to cover the insurance of goods." sai vì CFR không bắt người bán mua bảo hiểm; nghĩa vụ đó chỉ có ở CIF và CIP, còn dưới CFR người mua tự lo bảo hiểm cho chặng biển vì họ chịu rủi ro.
ALetter of credit
BSales contract
CCollection order
DNone of these
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Đáp án đúng: "Sales contract". Incoterms 2020 là bộ quy tắc của Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) giải thích điều kiện thương mại, chỉ có hiệu lực ràng buộc khi các bên dẫn chiếu nó trong hợp đồng mua bán, ví dụ ghi rõ "CIF Hai Phong Incoterms 2020". Nó phân chia nghĩa vụ, chi phí và rủi ro giữa người bán và người mua, nên chỗ đưa vào phải là hợp đồng giữa hai bên đó. "Letter of credit" có thể nhắc lại điều kiện giao hàng khi mô tả hàng hoá, nhưng thư tín dụng là cam kết của ngân hàng, độc lập với hợp đồng và không phải nơi xác lập nghĩa vụ giao hàng giữa người mua và người bán. "Collection order" là chỉ thị người bán gửi ngân hàng để thu tiền theo URC 522, chỉ nói về việc xử lý chứng từ. "None of these" sai vì hợp đồng mua bán chính là nơi phải ghi điều kiện Incoterms.
A“dirty”
B"clean"
C“full”
D“partial”
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Đáp án đúng: ""clean"". Chấp nhận trơn (clean acceptance, còn gọi là chấp nhận không bảo lưu hay general acceptance) là khi người bị ký phát (drawee) ký chấp nhận hối phiếu đúng như nội dung hối phiếu, không kèm điều kiện, ghi chú hay hạn chế nào; nhờ vậy hối phiếu giữ nguyên giá trị, người cầm có thể chiết khấu hay chuyển nhượng dễ dàng. Ngược lại là chấp nhận có bảo lưu (qualified acceptance), làm giảm giá trị hối phiếu. “dirty” sai vì chữ "bẩn" (dirty, claused) dùng cho vận đơn có ghi chú xấu về tình trạng hàng hay bao bì, không phải thuật ngữ chỉ một kiểu chấp nhận hối phiếu đạt chuẩn; nếu có thì nó lại chỉ điều ngược với câu hỏi. “full” sai vì chấp nhận toàn bộ số tiền chưa đủ: một chấp nhận đủ số tiền vẫn có thể kèm điều kiện làm giảm giá trị, nên tiêu chí "không có ghi chú" ứng với "clean" chứ không phải "full". “partial” sai vì chấp nhận một phần (chỉ nhận trả một phần số tiền) chính là một dạng chấp nhận có bảo lưu, làm tổn hại giá trị hối phiếu.
18Main parties of Documentary Collection are:4 lựa chọn
AIssuing bank, Advising bank
BApplicant, Beneficiary
CApplicant, Beneficiary, Remitting Bank, Collecting Bank/Presenting Bank
DPrincipal, Remitting Bank, Collecting Bank/Presenting Bank, Drawee
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Đáp án đúng: "Principal, Remitting Bank, Collecting Bank/Presenting Bank, Drawee". Theo URC 522 điều 3, nhờ thu chứng từ có các bên chính là người uỷ thác (principal, thường là người bán) giao chứng từ cho ngân hàng của mình; ngân hàng chuyển (remitting bank) nhận chứng từ và chỉ thị nhờ thu rồi gửi sang ngân hàng thu (collecting bank) ở nước người mua; ngân hàng xuất trình (presenting bank) là ngân hàng thu trực tiếp xuất trình chứng từ cho người trả tiền (drawee, thường là người mua). "Issuing bank, Advising bank" là các ngân hàng trong thư tín dụng: ngân hàng phát hành và ngân hàng thông báo, không có trong nhờ thu. "Applicant, Beneficiary" là người mở và người thụ hưởng, tên gọi các bên trong thư tín dụng chứ không phải trong nhờ thu, nơi hai bên mua bán được gọi là principal và drawee. "Applicant, Beneficiary, Remitting Bank, Collecting Bank/Presenting Bank" trộn tên gọi của thư tín dụng (người mở, người thụ hưởng) với các ngân hàng của nhờ thu, nên không đúng thuật ngữ của URC 522.
19In which of the following case may the seller agree to a documentary collection payment?4 lựa chọn
AThe seller does not doubt the buyer's ability and willingness to pay for the goods
BThe buyer's country is not politically, economically, and legally stable
CThere are some foreign exchange restrictions in the buyer's country
DThe shipped goods are not easily remarketable
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Đáp án đúng: "The seller does not doubt the buyer's ability and willingness to pay for the goods". Nhờ thu kèm chứng từ (documentary collection) chỉ dùng ngân hàng làm đại lý chuyển chứng từ và thu tiền; ngân hàng không cam kết thanh toán, nên nếu người mua từ chối trả hay từ chối chấp nhận hối phiếu, người bán phải tự xử lý lô hàng đã nằm ở nước người mua. Vì thế người bán chỉ nên đồng ý nhờ thu khi tin vào khả năng và thiện chí trả tiền của người mua. "The buyer's country is not politically, economically, and legally stable" sai vì bất ổn chính trị, kinh tế, pháp lý ở nước người mua làm tăng rủi ro không thu được tiền mà nhờ thu không che chắn; khi đó nên dùng thư tín dụng, tốt nhất có xác nhận. "There are some foreign exchange restrictions in the buyer's country" sai vì hạn chế ngoại hối có thể khiến người mua sẵn lòng trả mà vẫn không chuyển được tiền ra, đây là rủi ro chuyển tiền mà nhờ thu không giải quyết được. "The shipped goods are not easily remarketable" sai vì nếu người mua bỏ hàng, người bán cần bán lại được hàng ở nơi đến; hàng khó bán lại khiến nhờ thu càng rủi ro.
Aseller's, the drawee
Bbuyer's, the drawer
Cbuyer's, the drawee
Dseller's, the drawer
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Đáp án đúng: "buyer's, the drawee". Trong nhờ thu chứng từ, người bán (drawer, người ký phát hối phiếu) giao bộ chứng từ cho ngân hàng chuyển ở nước mình; ngân hàng này gửi chứng từ bằng bưu điện hoặc chuyển phát nhanh cho ngân hàng thu hay ngân hàng xuất trình ở nước người mua, kèm chỉ thị xuất trình cho người trả tiền (drawee, chính là người mua) để thu tiền theo D/P hoặc lấy chấp nhận theo D/A. "seller's, the drawee" đặt ngân hàng thu ở nước người bán, trong khi ngân hàng chuyển đã ở đó và chứng từ phải đi sang nước người mua. "buyer's, the drawer" đúng nước nhưng sai người nhận, vì người ký phát là người bán, người đòi tiền chứ không phải người bị đòi tiền. "seller's, the drawer" sai cả hai chỗ: vừa sai nước vừa xuất trình cho chính người bán đã lập chứng từ.