MLN122Trung bìnhKỳ 8Đại cương Cập nhật 21 giờ trước

Kinh tế chính trị Mác - Lênin

MLN122 - Kinh tế chính trị Mác - Lênin là môn thuộc khối lý luận chính trị trong chương trình đại cương bậc cử nhân của Đại học FPT. Môn đi tìm lời đáp cho một câu hỏi cũ mà chưa bao giờ hết thời sự: của cải trong một xã hội được làm ra bằng cách nào, rồi chia cho ai theo luật lệ nào, và vì sao cách chia ấy lại thay đổi qua từng thời kỳ. Khác với những môn kinh tế chỉ mô tả giá cả và sản lượng, ở đây đối tượng là quan hệ giữa người với người ẩn sau các con số: ai nắm tư liệu sản xuất, ai phải bán sức lao động, phần dôi ra thuộc về bên nào. Điểm xuất phát là hàng hóa, tế bào của nền kinh tế thị trường, với hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng cùng tính hai mặt của lao động sản xuất ra nó; từ đó mới hiểu được vì sao thời gian lao động xã hội cần thiết quyết định lượng giá trị, vì sao tiền tệ ra đời, và quy luật giá trị điều tiết sản xuất theo cơ chế nào. Mạch thứ hai là giá trị thặng dư: sức lao động trở thành hàng hóa trong điều kiện nào, vì sao chỉ riêng nó tạo ra lượng giá trị lớn hơn giá trị bản thân, hai con đường kéo dài ngày lao động và tăng năng suất xã hội khác nhau ra sao, rồi lợi nhuận, lợi tức và địa tô che giấu nguồn gốc ấy bằng cách nào. Xuyên suốt cả hai mạch, công cụ làm việc là trừu tượng hóa khoa học, bởi quan hệ kinh tế không đem vào phòng thí nghiệm được mà phải gạt cái ngẫu nhiên để giữ lấy cái bản chất. Mạch thứ ba theo dấu sự vận động của chính nền kinh tế đó: cạnh tranh tự do dẫn tới tích tụ và tập trung sản xuất, độc quyền hình thành rồi kết hợp với sức mạnh nhà nước, đồng thời bộc lộ những biểu hiện mới của thời nay. Hai mạch cuối hướng hẳn về Việt Nam. Một bên là con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cùng những được và mất của hội nhập kinh tế quốc tế. Bên kia là mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo quy luật thị trường nhưng có sự quản lý của Nhà nước, nơi các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội phải được đặt hài hòa với nhau. Lợi ích: người học đọc được tin tức kinh tế ở tầng sâu hơn con số, hiểu vì sao giá cả lên xuống quanh giá trị chứ không trùng với nó, phân biệt được những cặp rất dễ nhầm khi làm bài trắc nghiệm như giá trị với giá cả, lao động cụ thể với lao động trừu tượng, tư bản bất biến với tư bản cố định, giá trị thặng dư tuyệt đối với tương đối, tích tụ với tập trung tư bản. Ngân hàng câu hỏi của môn kèm lời giải nêu rõ đáp án đúng dựa vào căn cứ nào và từng phương án còn lại sai ở chỗ nào, nên dùng được cả để ôn thi lẫn để tự rà lại chỗ mình đang hiểu lệch.

661Câu hỏi
9Bộ đề
6Chủ đề
5,03 đánh giá

Câu hỏi của môn

504/661 câuCòn 157
485Tư bản thương nghiệp của chủ nghĩa tư bản là:4 lựa chọnTrung bình68% trả lời đúng
ALà một bộ phận của tư bản nông nghiệp tách ra phục vụ quá trình lưu thông hàng hóa
BLà một bộ phận của tư bản công nghiệp tách ra phục vụ quá trình lưu thông hàng hóa
CLà một bộ phận của tư bản cho vay tách ra phục vụ quá trình lưu thông hàng hóa
DLà một bộ phận của tư bản thương nghiệp tách ra phục vụ quá trình lưu thông hàng hóa
Lời giải
Tư bản thương nghiệp của chủ nghĩa tư bản được hình thành từ một bộ phận của tư bản công nghiệp tách ra để phục vụ quá trình lưu thông hàng hóa. Quá trình này bắt đầu khi các doanh nghiệp công nghiệp sản xuất hàng hóa với mục đích bán chúng trên thị trường. Để thực hiện được điều này, họ cần phải có một bộ phận tư bản riêng biệt để quản lý và vận chuyển hàng hóa, cũng như thực hiện các hoạt động kinh doanh khác như quảng cáo và tiếp thị. Bộ phận tư bản này được gọi là tư bản thương nghiệp.
Mở trang câu hỏi này →
486Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa:4 lựa chọnDễ85% trả lời đúng
ABằng giá trị hàng hóa
BLớn hơn giá trị hàng hóa
CNhỏ hơn giá trị hàng hóa
DKhông xác định
Lời giải
Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là tổng chi phí mà doanh nghiệp phải trả để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa. Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, chi phí sản xuất thường bao gồm chi phí nguyên vật liệu, chi phí lao động, chi phí tiền thuê mặt bằng, chi phí tiền thuê nhân công, chi phí tiền thuê thiết bị, chi phí tiền thuê quản lý và chi phí khác. Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa thường lớn hơn giá trị hàng hóa do doanh nghiệp phải trả các loại chi phí khác nhau để sản xuất ra hàng hóa. Vì vậy, chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa thường lớn hơn giá trị hàng hóa.
Mở trang câu hỏi này →
487Địa tô chênh lệch II được thu trên ruộng đất nào?4 lựa chọnTrung bình64% trả lời đúng
ARuộng đất đã thâm canh
BRuộng đất có độ màu mỡ trung bình
CRuộng đất có độ màu mỡ tốt
DRuộng đất chưa được sử dụng lần nào
Lời giải
Địa tô chênh lệch II là loại địa tô được thu trên các ruộng đất đã được sử dụng và khai thác một cách hiệu quả. Đây là loại đất đã được con người cải tạo, thâm canh và mang lại thu nhập cho chủ đất. Địa tô chênh lệch II thường được thu trên các ruộng đất có độ màu mỡ tốt, được sử dụng để trồng các loại cây trồng chính như lúa, ngô, khoai tây, v.v. Những loại đất này đã được cải tạo và thâm canh một cách hiệu quả, mang lại thu nhập cao cho chủ đất. Vì vậy, địa tô chênh lệch II thường được thu trên các ruộng đất đã thâm canh.
Mở trang câu hỏi này →
ATái sản xuất mở rộng theo chiều rộng
BTái sản xuất theo chu kỳ tháng
CTái sản xuất mở rộng theo chiều sâu
DTái sản xuất giản đơn
Lời giải
Tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu là loại tái sản xuất làm tăng sản phẩm chủ yếu do tăng năng suất lao động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp không chỉ đầu tư vào việc mở rộng quy mô sản xuất mà còn tập trung vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm, cải thiện quy trình sản xuất và tối ưu hóa sử dụng các nguồn lực như lao động, máy móc và nguyên vật liệu. Nhờ đó, doanh nghiệp có thể tăng sản lượng sản phẩm mà không cần phải đầu tư quá nhiều vào việc mở rộng quy mô sản xuất. Điều này giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí và tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Mở trang câu hỏi này →
489Chủ nghĩa tư bản ra đời khi nào?4 lựa chọnDễ86% trả lời đúng
ASản xuất hàng hoá đã phát triển cao
BPhân công lao động đã phát triển cao
CTư liệu sản xuất tập trung vào một số ít người còn đa số người bị mất hết tư liệu sản xuất
DKiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa được hình thành hoàn chỉnh
Lời giải
Chủ nghĩa tư bản ra đời khi tư liệu sản xuất tập trung vào một số ít người, trong khi đa số người bị mất hết tư liệu sản xuất. Điều này có nghĩa là một số người đã sở hữu nhiều tài sản và lao động, trong khi những người khác không có gì. Điều này tạo ra sự chênh lệch về quyền lực và tài nguyên, dẫn đến sự hình thành của chủ nghĩa tư bản. Tư liệu sản xuất tập trung vào một số ít người có thể là đất đai, máy móc, hoặc các tài sản khác. Trong khi đó, đa số người bị mất hết tư liệu sản xuất có thể phải bán lao động của mình cho người sở hữu tư liệu sản xuất, trở thành công nhân. Điều này tạo ra sự phụ thuộc của công nhân vào người sở hữu tư liệu sản xuất, và dẫn đến sự hình thành của quan hệ lao động không công bằng.
Mở trang câu hỏi này →
AGiá trị
BTự do
CGiá trị sử dụng
DSức khỏe của người lao động
Lời giải
Hàng hóa sức lao động là một khái niệm quan trọng trong kinh tế học và xã hội học. Nó được định nghĩa là sức lao động của con người được chuyển đổi thành hàng hóa có thể được trao đổi trên thị trường. Trong bối cảnh này, thuộc tính của hàng hóa sức lao động bao gồm cả giá trị và giá trị sử dụng. Giá trị của hàng hóa sức lao động được đo bằng số giờ lao động cần thiết để sản xuất ra nó, trong khi giá trị sử dụng được đo bằng khả năng tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ có giá trị. Cả hai thuộc tính này đều quan trọng vì chúng giúp xác định giá trị của hàng hóa sức lao động trên thị trường lao động.
Mở trang câu hỏi này →
AKéo dài thời gian lao động trong ngày
BTăng cường độ lao động
CRút ngắn thời gian lao động tất yếu
DTăng quy mô vốn của chủ nghĩa tư bản
Lời giải
Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối được nhà tư bản tạo ra bằng cách kéo dài thời gian lao động trong ngày và tăng cường độ lao động. Khi kéo dài thời gian lao động, người lao động sẽ phải làm việc nhiều giờ hơn, dẫn đến việc tạo ra nhiều giá trị thặng dư hơn. Tăng cường độ lao động cũng giúp người lao động làm việc hiệu quả hơn, tạo ra nhiều giá trị thặng dư hơn trong cùng một thời gian. Điều này giúp nhà tư bản tăng cường khả năng cạnh tranh và lợi nhuận của mình. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc kéo dài thời gian lao động và tăng cường độ lao động có thể dẫn đến sự kiệt sức và ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động.
Mở trang câu hỏi này →
ATỷ suất giá trị thặng dư
BCấu tạo hữu cơ của tư bản
CTốc độ chu chuyển của tư bản
DLợi nhuận bình quân
Lời giải
Theo quan điểm của kinh tế chính trị Mác - Lênin, tỷ suất lợi nhuận được ảnh hưởng bởi ba nhân tố chính. Thứ nhất, tỷ suất giá trị thặng dư (hay còn gọi là tỷ suất giá trị thặng dư tuyệt đối) là tỷ lệ giữa giá trị thặng dư và giá trị thặng dư cộng với giá trị sử dụng của tư bản. Thứ hai, cấu tạo hữu cơ của tư bản, bao gồm tỷ lệ giữa giá trị thặng dư và giá trị sử dụng của tư bản, cũng ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận. Cuối cùng, tốc độ chu chuyển của tư bản, đo lường tốc độ sử dụng và tái sản xuất tư bản, cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tỷ suất lợi nhuận. Những nhân tố này không chỉ ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận mà còn liên quan đến sự phát triển của kinh tế và xã hội.
Mở trang câu hỏi này →
AQuyền sử dụng tách khỏi quyền sở hữu
BTư bản cho vay là hàng hóa đặc biệt
CTư bản cho vay không phải là hình thái tư bản phiến diện
DGiá cả của tư bản cho vay được quyết định bởi giá trị của nó
Lời giải
Tư bản cho vay trong chủ nghĩa tư bản có đặc điểm quan trọng là quyền sử dụng tách khỏi quyền sở hữu. Điều này có nghĩa là người cho vay không phải là người sử dụng tư bản, mà là người khác sẽ sử dụng nó để sản xuất hoặc kinh doanh. Ngoài ra, tư bản cho vay cũng được coi là hàng hóa đặc biệt vì nó có giá trị và có thể được mua bán trên thị trường. Điều này cho thấy tư bản cho vay không phải là hình thái tư bản phiến diện, mà là một phần quan trọng của hệ thống kinh tế tư bản. Giá cả của tư bản cho vay được quyết định bởi giá trị của nó, không phải bởi giá trị sử dụng. Điều này cho thấy tư bản cho vay được coi là một loại hàng hóa có giá trị kinh tế.
Mở trang câu hỏi này →
ALợi nhuận
BLợi tức
CĐịa tô
DĐộc quyền
Lời giải
Giá trị thặng dư là một khái niệm quan trọng trong kinh tế học, thể hiện sự khác biệt giữa giá trị sản phẩm và chi phí sản xuất. Giá trị thặng dư biểu hiện cụ thể thông qua các hình thái sau: Lợi nhuận, Lợi tức và Địa tô. Lợi nhuận là phần giá trị thặng dư được tạo ra bởi các doanh nghiệp sau khi trừ đi chi phí sản xuất. Lợi tức là phần giá trị thặng dư được tạo ra bởi các chủ sở hữu tài sản sau khi trừ đi chi phí sản xuất. Địa tô là phần giá trị thặng dư được tạo ra bởi sự khác biệt về giá trị giữa các khu vực sản xuất. Tất cả các hình thái này đều thể hiện sự hiện diện của giá trị thặng dư trong nền kinh tế.
Mở trang câu hỏi này →
ATự do cạnh tranh
BĐộc quyền
CTư bản
DSự ra đời của nhà nước
Lời giải
Tự do cạnh tranh là quá trình mà các doanh nghiệp được phép hoạt động và cạnh tranh với nhau trên thị trường mà không có sự can thiệp từ bên ngoài. Khi các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau, họ sẽ cố gắng tạo ra sản phẩm và dịch vụ tốt hơn, giá cả cạnh tranh hơn để thu hút khách hàng. Quá trình này sẽ dẫn đến sự tập trung sản xuất, khi các doanh nghiệp mạnh hơn và có khả năng cạnh tranh tốt hơn sẽ mua lại hoặc hợp nhất các doanh nghiệp yếu hơn. Khi sự tập trung sản xuất này phát triển tới một mức độ nhất định, nó sẽ dẫn đến độc quyền, khi một hoặc một số doanh nghiệp có quyền độc quyền trên thị trường và không có đối thủ cạnh tranh.
Mở trang câu hỏi này →
AĐộc lập về chính trị nhưng lệ thuộc về kinh tế và ngoại giao
BĐộc lập về kinh tế nhưng lệ thuộc về chính trị
CLệ thuộc về kinh tế, chính trị và ngoại giao
DĐộc lập về lãnh thổ, nhưng lệ thuộc về ngoại giao
Lời giải
Trong thời đại chủ nghĩa đế quốc tư bản, chính sách thực dân đã tạo ra những hình thức lệ thuộc mới có tính quá độ đối với các nước bị áp dụng. Những hình thức này bao gồm độc lập về chính trị nhưng lệ thuộc về kinh tế và ngoại giao. Điều này có nghĩa là mặc dù các nước này có độc lập về chính trị, nhưng họ vẫn bị phụ thuộc vào các đế quốc tư bản về mặt kinh tế và ngoại giao. Ví dụ, họ có thể có chính phủ và hệ thống chính trị riêng, nhưng họ vẫn phải tuân theo các chính sách kinh tế và ngoại giao của các đế quốc tư bản. Điều này tạo ra một hình thức lệ thuộc mới, phức tạp và đa dạng hơn so với trước đây.
Mở trang câu hỏi này →
ATrust, Cartel, Syndicate, Consortium
BCortium, Cartel, Syndicate, Trust
CSyndicate, Cartel, Trust, Consortium
DCartel, Syndicate, Trust, Consortium
Lời giải
Xét trên phương diện lịch sử, các hình thức tổ chức độc quyền phát triển từ thấp đến cao. Trước hết, chúng ta có Cartel, đó là một thỏa thuận giữa các doanh nghiệp độc lập để hợp tác và hạn chế cạnh tranh. Sau đó, chúng ta có Syndicate, đó là một tổ chức hợp tác giữa các doanh nghiệp để thực hiện các hoạt động kinh doanh cụ thể. Tiếp theo, chúng ta có Trust, đó là một tổ chức hợp tác giữa các doanh nghiệp để kiểm soát và quản lý các hoạt động kinh doanh. Cuối cùng, chúng ta có Consortium, đó là một tổ chức hợp tác giữa các doanh nghiệp để thực hiện các dự án kinh doanh lớn và phức tạp. Vì vậy, theo thứ tự từ thấp đến cao, các hình thức tổ chức độc quyền phát triển như sau: Cartel, Syndicate, Trust, Consortium.
Mở trang câu hỏi này →
AThúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng
BNhanh chóng mở rộng thị trường sang các nước thuộc địa
CChuyển nền sản xuất nhỏ thành nền sản xuất lớn hiện đại
DThực hiện xã hội hóa sản xuất
Lời giải
Chủ nghĩa tư bản đã đóng vai trò tích cực trong sự phát triển của xã hội và nền kinh tế. Thứ nhất, chủ nghĩa tư bản đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng thông qua việc ứng dụng công nghệ và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển. Điều này đã dẫn đến sự gia tăng năng suất lao động và sản lượng hàng hóa, từ đó cải thiện cuộc sống của người dân. Thứ hai, chủ nghĩa tư bản đã chuyển nền sản xuất nhỏ thành nền sản xuất lớn hiện đại, giúp tăng cường hiệu quả và giảm chi phí sản xuất. Điều này đã tạo điều kiện cho sự mở rộng thị trường và tăng trưởng kinh tế. Cuối cùng, chủ nghĩa tư bản đã thực hiện xã hội hóa sản xuất, giúp phân phối tài nguyên và lao động một cách hiệu quả hơn. Điều này đã góp phần vào sự phát triển của các ngành công nghiệp và dịch vụ.
Mở trang câu hỏi này →
AGiành lợi thế trong hệ thống
BChiếm tỷ lệ cổ phần khống chế
CPhân chia lợi ích có lợi hơn
DĐể xác định địa vị độc quyền
Lời giải
Trong trạng thái độc quyền, cạnh tranh trong nội bộ các tổ chức độc quyền nhằm mục đích giành lợi thế trong hệ thống, chiếm tỷ lệ cổ phần khống chế và phân chia lợi ích có lợi hơn. Cạnh tranh trong nội bộ tổ chức độc quyền là một quá trình để các doanh nghiệp trong tổ chức này cố gắng tăng cường vị thế và lợi thế của mình trong hệ thống. Điều này có thể đạt được thông qua việc cạnh tranh về sản phẩm, giá cả, chất lượng và dịch vụ. Mục tiêu cuối cùng của cạnh tranh trong nội bộ tổ chức độc quyền là để chiếm tỷ lệ cổ phần khống chế và phân chia lợi ích có lợi hơn, từ đó tăng cường vị thế và lợi thế của doanh nghiệp trong tổ chức.
Mở trang câu hỏi này →
AMục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa vẫn tập trung chủ yếu vì lợi ích của thiểu số giai cấp tư sản
BChủ nghĩa tư bản đã và đang tiếp tục gây ra chiến tranh và xung đột nhiều nơi trên thế giới
CSự phân hóa giàu nghèo trong lòng các nước tư bản có xu hướng ngày càng sâu sắc
DGây ra biến đổi khí hậu và môi trường
Lời giải
Những hạn chế của chủ nghĩa tư bản bao gồm những điểm sau đây. Thứ nhất, mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa vẫn tập trung chủ yếu vì lợi ích của thiểu số giai cấp tư sản. Điều này dẫn đến sự bất công và không công bằng trong xã hội. Thứ hai, chủ nghĩa tư bản đã và đang tiếp tục gây ra chiến tranh và xung đột nhiều nơi trên thế giới. Điều này là do sự cạnh tranh và đấu tranh giữa các quốc gia tư bản để giành quyền kiểm soát tài nguyên và thị trường. Thứ ba, sự phân hóa giàu nghèo trong lòng các nước tư bản có xu hướng ngày càng sâu sắc. Điều này dẫn đến sự bất ổn và không chắc chắn trong xã hội.
Mở trang câu hỏi này →
AĐộc quyền
BTự do cạnh tranh
CKhủng hoảng kinh tế
DSản xuất thừa
Lời giải
Khi tích tụ và tập trung sản xuất phát triển đến một mức độ nào đó, sẽ dẫn đến sự hình thành của các tập đoàn kinh tế lớn. Điều này có thể gây ra vấn đề về độc quyền, nơi mà một hoặc một số ít tập đoàn nắm giữ thị trường và có thể kiểm soát giá cả, sản lượng và các yếu tố khác của nền kinh tế. Điều này có thể dẫn đến sự bất công và hạn chế sự cạnh tranh, làm cho nền kinh tế trở nên không công bằng và không hiệu quả. Ngoài ra, tập đoàn kinh tế lớn cũng có thể sử dụng các chiến thuật độc quyền như hạn chế sản xuất, tăng giá, và các biện pháp khác để duy trì vị thế của mình trên thị trường.
Mở trang câu hỏi này →
ADo sự phát triển của lực lượng sản xuất
BDo cạnh tranh
CDo khủng hoảng và sự phát triển của hệ thống tín dụng
DDo các doanh nghiệp giảm quy mô tích tụ và tập trung sản xuất
Lời giải
Nguyên nhân hình thành độc quyền trong nền kinh tế thị trường ở các nước tư bản chủ nghĩa là sự kết hợp của nhiều yếu tố. Đầu tiên, sự phát triển của lực lượng sản xuất đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp lớn mạnh và tập trung sản xuất. Điều này dẫn đến sự hình thành các tập đoàn kinh tế mạnh mẽ và có khả năng cạnh tranh cao. Thứ hai, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đã thúc đẩy quá trình tập trung và tích tụ sản xuất, dẫn đến sự hình thành độc quyền. Cuối cùng, khủng hoảng kinh tế và sự phát triển của hệ thống tín dụng đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp lớn mạnh và tập trung sản xuất, từ đó hình thành độc quyền. Tóm lại, sự phát triển của lực lượng sản xuất, cạnh tranh và khủng hoảng kinh tế là ba nguyên nhân chính hình thành độc quyền trong nền kinh tế thị trường ở các nước tư bản chủ nghĩa.
Mở trang câu hỏi này →
AMâu thuẫn giữa trình độ xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất dựa trên quan hệ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu tiêu dùng
BMâu thuẫn giữa trình độ xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất dựa trên quan hệ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất
CMâu thuẫn giữa trình độ công nghiệp hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất dựa trên quan hệ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất.
DMâu thuẫn giữa trình độ trí tuệ hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất dựa trên quan hệ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu tiêu dùng.
Lời giải
Chủ nghĩa tư bản bị hạn chế bởi mâu thuẫn cơ bản giữa trình độ xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất dựa trên quan hệ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, dẫn đến sự tăng trưởng của sản xuất và kinh tế, nhưng quan hệ sản xuất dựa trên quan hệ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất không thể đáp ứng được nhu cầu của sự phát triển này. Điều này dẫn đến sự mâu thuẫn giữa hai yếu tố này, gây ra hạn chế cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản.
Mở trang câu hỏi này →
AGiữ độc lập về sản xuất, chỉ mất độc lập về lưu thông hàng hóa
BGiữ độc lập về lưu thông, chỉ mất độc lập về sản xuất hàng hóa
CGiữ độc lập về lưu thông, Giữ độc lập về sản xuất hàng hóa
DGiữ độc lập về sản xuất, chỉ mất một phần nhỏ tính độc lập về lưu thông hàng hóa
Lời giải
Tổ chức độc quyền Syndicate là một loại hình tổ chức kinh tế trong đó các doanh nghiệp độc lập về sản xuất nhưng mất độc lập về lưu thông hàng hóa. Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp trong Syndicate vẫn tự quyết định về quy trình sản xuất, công nghệ, chất lượng sản phẩm, v.v. nhưng lại phải tuân theo các quy định chung về lưu thông hàng hóa, bao gồm giá cả, phân phối, v.v. Điều này giúp Syndicate đạt được lợi thế về quy mô và hiệu quả kinh doanh, đồng thời cũng giúp các doanh nghiệp trong Syndicate giảm thiểu rủi ro và tăng cường sự ổn định về kinh tế.
Mở trang câu hỏi này →