MLN122Trung bìnhKỳ 8Đại cương Cập nhật 22 giờ trước

Kinh tế chính trị Mác - Lênin

MLN122 - Kinh tế chính trị Mác - Lênin là môn thuộc khối lý luận chính trị trong chương trình đại cương bậc cử nhân của Đại học FPT. Môn đi tìm lời đáp cho một câu hỏi cũ mà chưa bao giờ hết thời sự: của cải trong một xã hội được làm ra bằng cách nào, rồi chia cho ai theo luật lệ nào, và vì sao cách chia ấy lại thay đổi qua từng thời kỳ. Khác với những môn kinh tế chỉ mô tả giá cả và sản lượng, ở đây đối tượng là quan hệ giữa người với người ẩn sau các con số: ai nắm tư liệu sản xuất, ai phải bán sức lao động, phần dôi ra thuộc về bên nào. Điểm xuất phát là hàng hóa, tế bào của nền kinh tế thị trường, với hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng cùng tính hai mặt của lao động sản xuất ra nó; từ đó mới hiểu được vì sao thời gian lao động xã hội cần thiết quyết định lượng giá trị, vì sao tiền tệ ra đời, và quy luật giá trị điều tiết sản xuất theo cơ chế nào. Mạch thứ hai là giá trị thặng dư: sức lao động trở thành hàng hóa trong điều kiện nào, vì sao chỉ riêng nó tạo ra lượng giá trị lớn hơn giá trị bản thân, hai con đường kéo dài ngày lao động và tăng năng suất xã hội khác nhau ra sao, rồi lợi nhuận, lợi tức và địa tô che giấu nguồn gốc ấy bằng cách nào. Xuyên suốt cả hai mạch, công cụ làm việc là trừu tượng hóa khoa học, bởi quan hệ kinh tế không đem vào phòng thí nghiệm được mà phải gạt cái ngẫu nhiên để giữ lấy cái bản chất. Mạch thứ ba theo dấu sự vận động của chính nền kinh tế đó: cạnh tranh tự do dẫn tới tích tụ và tập trung sản xuất, độc quyền hình thành rồi kết hợp với sức mạnh nhà nước, đồng thời bộc lộ những biểu hiện mới của thời nay. Hai mạch cuối hướng hẳn về Việt Nam. Một bên là con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cùng những được và mất của hội nhập kinh tế quốc tế. Bên kia là mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo quy luật thị trường nhưng có sự quản lý của Nhà nước, nơi các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội phải được đặt hài hòa với nhau. Lợi ích: người học đọc được tin tức kinh tế ở tầng sâu hơn con số, hiểu vì sao giá cả lên xuống quanh giá trị chứ không trùng với nó, phân biệt được những cặp rất dễ nhầm khi làm bài trắc nghiệm như giá trị với giá cả, lao động cụ thể với lao động trừu tượng, tư bản bất biến với tư bản cố định, giá trị thặng dư tuyệt đối với tương đối, tích tụ với tập trung tư bản. Ngân hàng câu hỏi của môn kèm lời giải nêu rõ đáp án đúng dựa vào căn cứ nào và từng phương án còn lại sai ở chỗ nào, nên dùng được cả để ôn thi lẫn để tự rà lại chỗ mình đang hiểu lệch.

661Câu hỏi
9Bộ đề
6Chủ đề
5,03 đánh giá

Câu hỏi của môn

484/661 câuCòn 177
APhân công lao động xã hội và sự tách biệt về kinh tế giữa các chủ thể sản xuất
BPhân công lao động trong các gia đình xuất hiện
CChế độ tư hữu về tư liệu sản xuất
DNhu cầu trao đổi trong xã hội tăng lên
Lời giải
Sản xuất hàng hóa là quá trình sản xuất các sản phẩm có thể trao đổi trên thị trường. Để ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa, cần có một số điều kiện quan trọng. Trước hết, phải có sự phân công lao động xã hội và sự tách biệt về kinh tế giữa các chủ thể sản xuất. Điều này có nghĩa là các cá nhân hoặc gia đình không còn tự sản xuất tất cả các sản phẩm cần thiết cho cuộc sống của mình, mà thay vào đó, họ tập trung vào một số lĩnh vực sản xuất nhất định và trao đổi sản phẩm với người khác. Điều này dẫn đến sự chuyên môn hóa và tăng hiệu quả sản xuất. Ngoài ra, chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất cũng là một điều kiện quan trọng. Điều này có nghĩa là các cá nhân hoặc gia đình sở hữu tư liệu sản xuất, chẳng hạn như đất đai, máy móc và công cụ, và có thể sử dụng chúng để sản xuất hàng hóa. Cuối cùng, nhu cầu trao đổi trong xã hội tăng lên cũng là một yếu tố quan trọng. Khi nhu cầu trao đổi tăng lên, các cá nhân hoặc gia đình có động lực hơn để sản xuất hàng hóa và trao đổi chúng với người khác.
Mở trang câu hỏi này →
466Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá bao gồm các mặt nào?4 lựa chọnTrung bình61% trả lời đúng
ALao động tư nhân, lao động xã hội
BLao động giản đơn, lao động phức tạp
CLao động cụ thể, lao động trừu tượng
DLao động phức tạp, lao động xã hội
Lời giải
Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá được hiểu là sự kết hợp giữa lao động cụ thể và lao động trừu tượng. Lao động cụ thể là lao động có tính chất vật chất, được thể hiện qua quá trình lao động cụ thể như trồng trọt, chăn nuôi, sản xuất hàng hóa. Lao động trừu tượng là lao động có tính chất tinh thần, được thể hiện qua quá trình lao động tạo ra giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa. Sự kết hợp giữa lao động cụ thể và lao động trừu tượng tạo ra giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa, đồng thời cũng tạo ra sự khác biệt giữa lao động và hàng hóa.
Mở trang câu hỏi này →
467Sản xuất hàng hoá là gì?4 lựa chọnDễ77% trả lời đúng
AKiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm làm ra được mang ra trao đổi, mua bán trên thị trường để thỏa mãn nhu cầu của xã hội
BKiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm làm ra phải tuân thủ các quy luật của thị trường nhằm thỏa mãn nhu cầu của xã hội
CKiểu tổ chức kinh tế do các quy luật sản xuất và lưu thông quyết định nhằm thỏa mãn nhu cầu của thị trường
DKiểu tổ chức kinh tế mà ở đó nhà nước đóng vai trò chi phối, quyết định để có lợi tối đa cho toàn xã hội
Lời giải
Sản xuất hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra để được trao đổi, mua bán trên thị trường. Mục đích của sản xuất hàng hoá là để thỏa mãn nhu cầu của xã hội. Khi sản xuất hàng hoá, các doanh nghiệp sẽ sản xuất ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, sau đó mang sản phẩm đó ra thị trường để bán. Quá trình này được quyết định bởi các quy luật của thị trường, bao gồm cung và cầu, giá cả, v.v. Sản xuất hàng hoá giúp tăng cường hiệu quả sản xuất, giảm chi phí và tăng cường cạnh tranh trên thị trường. Ngoài ra, sản xuất hàng hoá cũng giúp đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng, từ đó tăng cường sự hài lòng của họ.
Mở trang câu hỏi này →
AKhông phụ thuộc vào cường độ lao động
BTỷ lệ thuận với cường độ lao động
CTỷ lệ nghịch với cường độ lao động
DTỷ lệ thuận/nghịch tuỳ vào bối cảnh của thị trường
Lời giải
Trong kinh tế học, cường độ lao động là mức độ sử dụng sức lao động để sản xuất hàng hóa. Lượng giá trị của đơn vị hàng hóa được xác định bởi thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra nó. Theo lý thuyết giá trị lao động của Karl Marx, lượng giá trị của đơn vị hàng hóa tương quan với cường độ lao động. Khi cường độ lao động tăng lên, thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra đơn vị hàng hóa giảm xuống, dẫn đến giá trị của đơn vị hàng hóa giảm xuống. Ngược lại, khi cường độ lao động giảm xuống, thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra đơn vị hàng hóa tăng lên, dẫn đến giá trị của đơn vị hàng hóa tăng lên. Vì vậy, lượng giá trị của đơn vị hàng hóa tỷ lệ nghịch với cường độ lao động.
Mở trang câu hỏi này →
ALà phạm trù của mọi nền kinh tế hàng hoá
BLà phạm trù riêng của kinh tế thị trường
CLà phạm trù chung của mọi nền kinh tế
DLà phạm trù vĩnh viễn, giống nhau ở các nền sản xuất
Lời giải
Lao động trừu tượng được hiểu là phạm trù của mọi nền kinh tế hàng hóa. Điều này có nghĩa là lao động trừu tượng là một khái niệm cơ bản và phổ biến trong tất cả các nền kinh tế hàng hóa, bất kể hình thức sở hữu hay mô hình kinh tế cụ thể. Lao động trừu tượng được định nghĩa là lao động không thể đo lường trực tiếp, mà chỉ có thể được biểu hiện thông qua giá trị của sản phẩm lao động. Trong kinh tế học, lao động trừu tượng được coi là một trong những yếu tố quan trọng nhất tạo nên giá trị của sản phẩm. Nó được sử dụng để phân tích và mô tả các mối quan hệ giữa lao động, giá trị và sản phẩm trong các nền kinh tế hàng hóa.
Mở trang câu hỏi này →
470Thế nào là lao động giản đơn?4 lựa chọnDễ81% trả lời đúng
ALà lao động không cần trải qua đào tạo cũng có thể làm được
BLà lao động làm công việc đơn giản
CLà lao động chỉ làm một công đoạn của quá trình tạo ra hàng hoá
DLao động của người dưới tuổi thành niên
Lời giải
Lao động giản đơn là một khái niệm được sử dụng trong kinh tế học để mô tả loại lao động không đòi hỏi kỹ năng phức tạp hoặc trình độ chuyên môn cao. Nó thường liên quan đến các công việc đơn giản, không cần trải qua đào tạo hoặc học hỏi. Ví dụ, lao động giản đơn có thể bao gồm việc làm nông nghiệp, lao động trong các ngành công nghiệp nhẹ hoặc các công việc phục vụ. Những người thực hiện lao động giản đơn thường không cần phải có trình độ chuyên môn hoặc kỹ năng đặc biệt, nhưng vẫn đóng góp vào quá trình sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Lao động giản đơn thường được coi là một phần quan trọng của nền kinh tế, vì nó giúp cung cấp cho người dân những cơ hội việc làm cơ bản và giúp nền kinh tế hoạt động trơn tru.
Mở trang câu hỏi này →
471Giá trị hàng hoá được tạo ra từ quá trình nào?4 lựa chọnTrung bình70% trả lời đúng
ASản xuất
BPhân phối
CTrao đổi
DTiêu dùng
Lời giải
Giá trị hàng hóa được tạo ra từ quá trình sản xuất. Quá trình sản xuất là bước đầu tiên trong chuỗi giá trị hàng hóa, nơi mà nguyên liệu thô được biến đổi thành sản phẩm hoàn chỉnh. Trong quá trình sản xuất, giá trị của nguyên liệu thô được tăng lên thông qua việc thêm giá trị lao động, công nghệ và các yếu tố khác. Giá trị hàng hóa được tạo ra từ quá trình sản xuất có thể được đo lường thông qua giá trị gia tăng, là sự khác biệt giữa giá bán và giá nguyên liệu thô. Quá trình sản xuất đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra giá trị hàng hóa và quyết định giá trị cuối cùng của sản phẩm.
Mở trang câu hỏi này →
AĐối tượng hàng hóa đưa ra trao đổi, mua bán
BCăn cứ vào tính chuyên biệt của thị trường
CĐầu vào, đầu ra của quá trình sản xuất
DTính chất và cơ chế vận hành của thị trường
Lời giải
Để phân chia thị trường hàng hóa và thị trường dịch vụ, chúng ta dựa vào đối tượng hàng hóa đưa ra trao đổi, mua bán. Thị trường hàng hóa là nơi trao đổi các sản phẩm vật chất, trong khi thị trường dịch vụ là nơi cung cấp các dịch vụ như tư vấn, giáo dục, y tế, v.v. Mỗi loại thị trường có những đặc điểm và yêu cầu riêng biệt. Thị trường hàng hóa thường được xác định bởi tính chất vật chất của sản phẩm, trong khi thị trường dịch vụ được xác định bởi tính chất phi vật chất của dịch vụ. Việc phân chia thị trường dựa trên đối tượng hàng hóa đưa ra trao đổi, mua bán giúp chúng ta hiểu rõ hơn về đặc điểm và yêu cầu của từng loại thị trường, từ đó có thể xây dựng các chiến lược kinh doanh hiệu quả.
Mở trang câu hỏi này →
473Đặc trưng phổ biến của nền kinh tế thị trường là gì?4 lựa chọnDễ75% trả lời đúng
ACó sự đa dạng của các chủ thể kinh tế, nhiều hình thức sở hữu; thị trường đóng vai trò quyết định trong việc phân bổ các nguồn lực xã hội; giá cả được hình thành theo nguyên tắc thị trường; là nền kinh tế mở
BCó sự đa dạng của các chủ thể kinh tế, nhiều hình thức sở hữu; thị trường đóng vai trò quyết định trong việc phân bổ các nguồn lực xã hội; giá cả được hình thành theo nguyên tắc thị trường; là nền kinh tế đóng
CCó sự đa dạng của các chủ thể kinh tế, nhiều hình thức sở hữu; nhà nước đóng vai trò quyết định trong việc phân bổ các nguồn lực xã hội; giá cả được hình thành theo nguyên tắc thị trường; là nền kinh tế đóng
DCó sự đa dạng của các chủ thể kinh tế, nhiều hình thức sở hữu; thị trường đóng vai trò quyết định trong việc phân bổ các nguồn lực xã hội; giá cả được hình thành theo quy luật cung - cầu; là nền kinh tế mở
Lời giải
Đặc trưng phổ biến của nền kinh tế thị trường là sự đa dạng của các chủ thể kinh tế, bao gồm các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức kinh tế khác. Ngoài ra, nền kinh tế thị trường còn có nhiều hình thức sở hữu, chẳng hạn như sở hữu tư nhân, sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể. Thị trường đóng vai trò quyết định trong việc phân bổ các nguồn lực xã hội, tức là các nguồn lực được phân bổ dựa trên cơ chế thị trường, nơi mà giá cả được hình thành theo nguyên tắc thị trường. Điều này có nghĩa là giá cả của các sản phẩm và dịch vụ được xác định bởi sự tương tác giữa cung và cầu, chứ không phải bởi quyết định của nhà nước. Nền kinh tế thị trường còn được đặc trưng bởi tính mở, tức là nền kinh tế có liên kết với các nền kinh tế khác trên thế giới.
Mở trang câu hỏi này →
ATích luỹ nguyên thuỷ
BSự phát triển mạnh mẽ của phương tiện giao thông vận tải nhờ đó mở rộng giao lưu buôn bán quốc tế
CSự tác động của quy luật giá trị
DSự điều tiết của nhà nước tư sản
Lời giải
Chủ nghĩa tư bản ra đời nhanh chóng là do sự tích luỹ nguyên thuỷ. Tích luỹ nguyên thuỷ là quá trình tập trung tài sản và quyền lực vào tay một số ít người giàu có, dẫn đến sự hình thành của giai cấp tư sản. Sự tích luỹ nguyên thuỷ tạo ra điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của chủ nghĩa tư bản, bởi nó cung cấp nguồn lực và cơ sở vật chất cần thiết cho quá trình sản xuất và buôn bán. Đồng thời, sự tích luỹ nguyên thuỷ cũng tạo ra sự bất bình đẳng về tài sản và quyền lực, dẫn đến sự đấu tranh giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Quá trình tích luỹ nguyên thuỷ diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ trong thời kỳ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự khác biệt lớn về tài sản và quyền lực giữa các giai cấp.
Mở trang câu hỏi này →
475Cấu tạo hữu cơ của tư bản được kí hiệu là:4 lựa chọnDễ73% trả lời đúng
Ac/v
BT’/T
Cm/v
DCH/ch
Lời giải
Cấu tạo hữu cơ của tư bản được kí hiệu là c/v. Cấu trúc này bao gồm các thành phần cơ bản của tư bản, bao gồm vốn đầu tư (c) và lao động (v). Vốn đầu tư bao gồm các tài sản, công nghệ, và các nguồn lực khác được sử dụng để sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Lao động bao gồm các công nhân, kỹ sư, và các chuyên gia khác tham gia vào quá trình sản xuất. Cấu trúc c/v cho thấy mối quan hệ giữa vốn đầu tư và lao động trong quá trình sản xuất và tạo ra giá trị thặng dư.
Mở trang câu hỏi này →
AThuế khoá
BLợi nhuận
CLợi tức
DĐịa tô tư bản chủ nghĩa
Lời giải
Giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Lợi nhuận, lợi tức và địa tô tư bản chủ nghĩa đều là những hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư. Lợi nhuận là khoản tiền mà doanh nghiệp thu được sau khi trừ chi phí sản xuất khỏi giá bán sản phẩm. Lợi tức là khoản tiền mà người dân nhận được từ việc đầu tư vào các tài sản như cổ phiếu, trái phiếu, v.v. Địa tô tư bản chủ nghĩa là khoản tiền mà người sở hữu tài sản nhận được từ việc cho thuê hoặc sử dụng tài sản đó. Trong khi đó, thuế khóa là một loại thuế mà nhà nước áp dụng để thu hút đầu tư, không phải là hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư.
Mở trang câu hỏi này →
AQuá trình tạo ra giá trị mới
BLàm tăng giá trị
CQuá trình tiêu thụ sản phẩm
DQuá trình vận chuyển
Lời giải
Quá trình sản xuất giá trị thặng dư là một khái niệm quan trọng trong kinh tế học, đặc biệt là trong chủ nghĩa Mác. Giá trị thặng dư được định nghĩa là phần giá trị vượt quá giá trị cần thiết để sản xuất ra một sản phẩm. Để hiểu rõ hơn về quá trình sản xuất giá trị thặng dư, chúng ta cần xem xét các yếu tố liên quan. Quá trình tạo ra giá trị mới và làm tăng giá trị là hai yếu tố chính trong quá trình sản xuất giá trị thặng dư. Quá trình tạo ra giá trị mới liên quan đến việc tạo ra sản phẩm mới hoặc cải tiến sản phẩm hiện có, trong khi làm tăng giá trị liên quan đến việc tăng cường giá trị của sản phẩm đã có. Cả hai yếu tố này đều đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất giá trị thặng dư.
Mở trang câu hỏi này →
ALớn hơn chi phí sản xuất thực tế
BNhỏ hơn chi phí sản xuất thực tế
CBằng chi phí sản xuất thực tế
DKhông liên quan đến chi phí sản xuất thực tế
Lời giải
Chi phí sản xuất tư bản tương quan với chi phí sản xuất thực tế như thế nào? Trong kinh tế học, chi phí sản xuất tư bản được định nghĩa là chi phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, bao gồm cả chi phí vốn và chi phí lao động. Chi phí sản xuất thực tế lại là chi phí thực tế để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, bao gồm cả chi phí nguyên vật liệu, chi phí lao động và chi phí khác. Trong một số trường hợp, chi phí sản xuất tư bản có thể nhỏ hơn chi phí sản xuất thực tế, đặc biệt là khi doanh nghiệp có thể tận dụng được các nguồn lực hiệu quả hơn. Điều này có thể xảy ra khi doanh nghiệp có thể sản xuất ra một đơn vị sản phẩm với chi phí thấp hơn so với chi phí sản xuất thực tế. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, chi phí sản xuất tư bản có thể lớn hơn hoặc bằng chi phí sản xuất thực tế, tùy thuộc vào các yếu tố như quy mô sản xuất, công nghệ và quản lý.
Mở trang câu hỏi này →
479Tư bản bất biến tồn tại dưới hình thức nào?4 lựa chọnTrung bình50% trả lời đúng
ANguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, máy móc
BNguyên liệu, vật liệu, máy móc, sức lao động
CMáy móc, sức lao động
DVật liệu, máy móc, tiền công trả cho công nhân
Lời giải
Tư bản bất biến được định nghĩa là tổng giá trị của các yếu tố sản xuất không thay đổi trong quá trình sản xuất. Nó bao gồm các yếu tố như nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu và máy móc. Những yếu tố này là cơ sở để tạo ra sản phẩm và không thể thiếu trong quá trình sản xuất. Trong khi đó, tư bản biến đổi bao gồm các yếu tố như sức lao động và tiền công trả cho công nhân. Tư bản bất biến tồn tại dưới hình thức vật chất, bao gồm các yếu tố như nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu và máy móc. Những yếu tố này được sử dụng để tạo ra sản phẩm và không thể thiếu trong quá trình sản xuất.
Mở trang câu hỏi này →
480Quy luật chung của tích luỹ tư bản là gì? Ý nào sau đây không đúng:4 lựa chọnTrung bình69% trả lời đúng
AGiai cấp tư sản ngày càng giàu có, mâu thuẫn trong chủ nghĩa tư bản tăng lên
BCấu tạo hữu cơ của tư bản tăng lên
CQuá trình bần cùng hoá giai cấp vô sản
DMâu thuẫn xã hội được giải quyết khi phát triển đến đỉnh cao của xã hội
Lời giải
Quy luật chung của tích luỹ tư bản được Karl Marx và Friedrich Engels mô tả trong tác phẩm 'Das Kapital'. Theo đó, quy luật này bao gồm bốn giai đoạn chính: sản xuất tư bản hóa, tích luỹ tư bản, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và vô sản, và quá trình bần cùng hóa giai cấp vô sản. Giai cấp tư sản ngày càng giàu có và nắm giữ quyền lực kinh tế, dẫn đến sự gia tăng mâu thuẫn trong chủ nghĩa tư bản. Cấu tạo hữu cơ của tư bản tăng lên, đồng nghĩa với việc tư bản hóa sản xuất và lao động. Quá trình bần cùng hóa giai cấp vô sản là kết quả của sự cạnh tranh và đấu tranh giữa các nhà tư bản, dẫn đến sự suy giảm quyền lực và thu nhập của giai cấp vô sản. Mâu thuẫn xã hội không được giải quyết mà thay vào đó được đẩy lên mức độ cao hơn khi phát triển đến đỉnh cao của xã hội.
Mở trang câu hỏi này →
ANgười lao động được tự do về thân thể
BNgười lao động không có đủ tư liệu sản xuất
CNgười lao động có tư liệu sản xuất
DNgười lao động đang làm nô lệ cho một cá nhân trong xã hội
Lời giải
Để sức lao động trở thành hàng hóa, cần có một số điều kiện quan trọng. Trước hết, người lao động phải được tự do về thân thể, tức là họ không bị bóc lột, không bị bắt buộc phải làm việc dưới sự kiểm soát của người khác. Điều này cho phép người lao động có thể tự do lựa chọn công việc, tự do quyết định mức lương và thời gian làm việc. Thứ hai, người lao động không có đủ tư liệu sản xuất, tức là họ không có các công cụ, máy móc và tài nguyên cần thiết để sản xuất hàng hóa. Điều này buộc người lao động phải tìm kiếm việc làm và bán sức lao động của mình để có thể mua được các tư liệu sản xuất cần thiết. Khi người lao động được tự do về thân thể và không có đủ tư liệu sản xuất, họ sẽ trở thành người bán hàng hóa, và sức lao động của họ sẽ trở thành hàng hóa.
Mở trang câu hỏi này →
ATư bản cố định và lưu thông tư bản
BTư bản cố định và tư bản lưu động
CTư bản tài chính và tư bản công nghiệp
DTư bản bất biến và tư bản lưu động
Lời giải
Vai trò của các bộ phận tư bản trong chu chuyển tư bản được xác định trong phạm trù tư bản cố định và tư bản lưu động. Tư bản cố định bao gồm các bộ phận tư bản như máy móc, thiết bị, công nghệ, kiến trúc và các tài sản cố định khác. Tư bản lưu động bao gồm các bộ phận tư bản như lao động sống, nguyên vật liệu, hàng hóa và các tài sản lưu động khác. Trong quá trình sản xuất, tư bản cố định và tư bản lưu động được sử dụng kết hợp để tạo ra giá trị thặng dư. Tư bản cố định đóng vai trò là nguồn lực sản xuất, trong khi tư bản lưu động đóng vai trò là nguồn lực cung cấp cho quá trình sản xuất. Sự tương tác giữa tư bản cố định và tư bản lưu động tạo ra giá trị thặng dư, từ đó tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Mở trang câu hỏi này →
483Hàng hoá sức lao động khác hàng hoá thông thường ở chỗ nào?4 lựa chọnDễ83% trả lời đúng
AKhi sử dụng nó sẽ tạo ra một lượng giá trị nhỏ hơn giá trị của bản thân nó
BKhi sử dụng nó sẽ có khả năng tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó
CKhi sử dụng nó sẽ tạo ra một lượng giá trị ít hơn hoặc bằng với giá trị của bản thân nó
DKhi sử dụng nó sẽ tạo ra một lượng giá trị bằng đúng với giá trị của bản thân nó
Lời giải
Hàng hoá sức lao động khác hàng hoá thông thường ở chỗ, khi sử dụng nó sẽ tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó. Điều này là vì sức lao động mang lại khả năng sáng tạo và đổi mới, giúp tăng cường giá trị của sản phẩm cuối cùng. Ví dụ, một công nhân lành nghề có thể tạo ra một sản phẩm chất lượng cao hơn so với một công nhân chưa có kinh nghiệm. Điều này cho thấy rằng sức lao động không chỉ là một yếu tố sản xuất bình thường, mà còn là một yếu tố quan trọng trong quá trình tạo ra giá trị. Ngoài ra, sức lao động còn mang lại khả năng thích nghi với môi trường và công nghệ mới, giúp doanh nghiệp cạnh tranh hơn trên thị trường.
Mở trang câu hỏi này →
AVai trò các bộ phận tư bản trong quá trình sản xuất giá trị thặng dư
BPhương thức chuyển giá trị các bộ phận tư bản sang sản phẩm
CTốc độ chu chuyển của tư bản
DVai trò của chúng trong tích luỹ tư bản
Lời giải
Tư bản bất biến và tư bản khả biến là hai loại tư bản khác nhau trong kinh tế học Marx. Tư bản bất biến là loại tư bản không tham gia vào quá trình sản xuất giá trị thặng dư, mà chỉ tham gia vào quá trình tái sản xuất giá trị. Nó bao gồm các bộ phận như tư bản cố định, như máy móc, thiết bị, và tư bản lưu động, như lao động sống. Trong khi đó, tư bản khả biến là loại tư bản tham gia vào quá trình sản xuất giá trị thặng dư, tạo ra giá trị thặng dư và tích luỹ tư bản. Nó bao gồm các bộ phận như tư bản lưu động, như lao động sống, và tư bản tự nhiên, như nguyên liệu thô và vật liệu. Để phân biệt giữa hai loại tư bản này, ta dựa vào vai trò của các bộ phận tư bản trong quá trình sản xuất giá trị thặng dư.
Mở trang câu hỏi này →