MLN122Trung bìnhKỳ 8Đại cương Cập nhật 1 ngày trước

Kinh tế chính trị Mác - Lênin

MLN122 - Kinh tế chính trị Mác - Lênin là môn thuộc khối lý luận chính trị trong chương trình đại cương bậc cử nhân của Đại học FPT. Môn đi tìm lời đáp cho một câu hỏi cũ mà chưa bao giờ hết thời sự: của cải trong một xã hội được làm ra bằng cách nào, rồi chia cho ai theo luật lệ nào, và vì sao cách chia ấy lại thay đổi qua từng thời kỳ. Khác với những môn kinh tế chỉ mô tả giá cả và sản lượng, ở đây đối tượng là quan hệ giữa người với người ẩn sau các con số: ai nắm tư liệu sản xuất, ai phải bán sức lao động, phần dôi ra thuộc về bên nào. Điểm xuất phát là hàng hóa, tế bào của nền kinh tế thị trường, với hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng cùng tính hai mặt của lao động sản xuất ra nó; từ đó mới hiểu được vì sao thời gian lao động xã hội cần thiết quyết định lượng giá trị, vì sao tiền tệ ra đời, và quy luật giá trị điều tiết sản xuất theo cơ chế nào. Mạch thứ hai là giá trị thặng dư: sức lao động trở thành hàng hóa trong điều kiện nào, vì sao chỉ riêng nó tạo ra lượng giá trị lớn hơn giá trị bản thân, hai con đường kéo dài ngày lao động và tăng năng suất xã hội khác nhau ra sao, rồi lợi nhuận, lợi tức và địa tô che giấu nguồn gốc ấy bằng cách nào. Xuyên suốt cả hai mạch, công cụ làm việc là trừu tượng hóa khoa học, bởi quan hệ kinh tế không đem vào phòng thí nghiệm được mà phải gạt cái ngẫu nhiên để giữ lấy cái bản chất. Mạch thứ ba theo dấu sự vận động của chính nền kinh tế đó: cạnh tranh tự do dẫn tới tích tụ và tập trung sản xuất, độc quyền hình thành rồi kết hợp với sức mạnh nhà nước, đồng thời bộc lộ những biểu hiện mới của thời nay. Hai mạch cuối hướng hẳn về Việt Nam. Một bên là con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cùng những được và mất của hội nhập kinh tế quốc tế. Bên kia là mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo quy luật thị trường nhưng có sự quản lý của Nhà nước, nơi các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội phải được đặt hài hòa với nhau. Lợi ích: người học đọc được tin tức kinh tế ở tầng sâu hơn con số, hiểu vì sao giá cả lên xuống quanh giá trị chứ không trùng với nó, phân biệt được những cặp rất dễ nhầm khi làm bài trắc nghiệm như giá trị với giá cả, lao động cụ thể với lao động trừu tượng, tư bản bất biến với tư bản cố định, giá trị thặng dư tuyệt đối với tương đối, tích tụ với tập trung tư bản. Ngân hàng câu hỏi của môn kèm lời giải nêu rõ đáp án đúng dựa vào căn cứ nào và từng phương án còn lại sai ở chỗ nào, nên dùng được cả để ôn thi lẫn để tự rà lại chỗ mình đang hiểu lệch.

661Câu hỏi
9Bộ đề
6Chủ đề
5,03 đánh giá

Câu hỏi của môn

324/661 câuCòn 337
AThống nhất nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
BHoàn thiện thể chế về sở hữu và các thành phần kinh tế, loại hình doanh nghiệp và các tổ chức sản xuất kinh doanh
CHoàn thiện thể chế đảm bảo đồng bộ các yếu tố thị trường và phát triển đồng bộ các loại thị trường
DHoàn thiện thể chế vai trò lãnh đạo của Đảng
Lời giải
Hoàn thiện hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách cho hoạt động và phát triển lành mạnh của thị trường chứng khoán, tăng tính minh bạch chống các giao dịch phi pháp, các hành vi lừa tiền là thuộc về việc hoàn thiện thể chế đảm bảo đồng bộ các yếu tố thị trường và phát triển đồng bộ các loại thị trường. Điều này có nghĩa là cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của thị trường chứng khoán, đồng thời tăng cường tính minh bạch và ngăn chặn các hành vi bất hợp pháp. Việc này đòi hỏi sự đồng bộ và hoàn thiện của các yếu tố thị trường, bao gồm cả thị trường chứng khoán, thị trường tài chính và thị trường sản phẩm.
Mở trang câu hỏi này →
AĐại hội IX (2001)
BĐại hội X (2006)
CĐại hội XI (2011)
DĐại hội V (1982)
Lời giải
Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta lần đầu tiên được Đảng đưa ra tại Đại hội IX năm 2001. Đại hội IX là sự kiện quan trọng trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, nơi Đảng đã đề ra chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cho giai đoạn 2001-2010. Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xem là bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế của Việt Nam. Mô hình này kết hợp giữa các yếu tố kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm tạo ra một nền kinh tế độc lập, tự chủ và phát triển bền vững.
Mở trang câu hỏi này →
308Về vị trí lịch sử, kinh tế thị trường có đặc điểm gì?4 lựa chọnTrung bình48% trả lời đúng
ADo chủ nghĩa tư bản sinh ra
BCó cùng bản chất với kinh tế hàng hóa
CTồn tại chủ quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
DLà sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản
Lời giải
Kinh tế thị trường có vị trí lịch sử quan trọng vì nó là hình thức kinh tế hàng hóa, trong đó các sản phẩm được trao đổi dựa trên cơ sở thị trường. Kinh tế thị trường có bản chất tương tự như kinh tế hàng hóa, vì cả hai đều dựa trên nguyên tắc trao đổi hàng hóa và dịch vụ. Tuy nhiên, kinh tế thị trường có những đặc điểm riêng biệt, chẳng hạn như sự tham gia của nhiều chủ thể kinh tế, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp và sự quyết định giá cả dựa trên cung và cầu. Kinh tế thị trường không phải là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản, mà nó có thể tồn tại trong nhiều hệ thống kinh tế khác nhau. Nó cũng không phải là hình thức kinh tế duy nhất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mà nó có thể tồn tại song song với các hình thức kinh tế khác.
Mở trang câu hỏi này →
ADân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
BDân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh
CDân giàu, nước mạnh, văn minh, công bằng, dân chủ
DDân giàu, nước mạnh, dân chủ, văn minh, công bằng
Lời giải
Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh. Điều này thể hiện trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, được Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng thông qua. Mục tiêu này bao gồm việc phát triển kinh tế, đảm bảo công bằng xã hội, tăng cường dân chủ và xây dựng một xã hội văn minh. Trong đó, dân giàu được hiểu là sự phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Nước mạnh được hiểu là sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, quốc phòng và an ninh. Dân chủ được hiểu là sự tham gia của nhân dân vào việc quản lý và quyết định các vấn đề quốc gia. Công bằng được hiểu là sự phân phối tài nguyên và cơ hội công bằng cho mọi người. Văn minh được hiểu là sự phát triển văn hóa, giáo dục và khoa học - công nghệ.
Mở trang câu hỏi này →
310Sở hữu chịu sự quy định trực tiếp của yếu tố nào?4 lựa chọnDễ71% trả lời đúng
ATrình độ lực lượng sản xuất
BQuan hệ sản xuất
CCơ sở hạ tầng
DKiến trúc thượng tầng
Lời giải
Sở hữu là một khái niệm quan trọng trong kinh tế học và xã hội học. Sở hữu có thể được hiểu là quyền kiểm soát và sử dụng tài sản, nguồn lực và sản phẩm. Trong nền kinh tế xã hội, sở hữu chịu sự quy định trực tiếp của quan hệ sản xuất. Quan hệ sản xuất là cách thức sản xuất và phân phối tài sản, nguồn lực và sản phẩm trong xã hội. Nó bao gồm các yếu tố như tổ chức sản xuất, phân công lao động, sở hữu tư liệu sản xuất và phân phối sản phẩm. Quan hệ sản xuất có thể ảnh hưởng đến quyền sở hữu và cách thức sử dụng tài sản, nguồn lực và sản phẩm. Ví dụ, trong một nền kinh tế tư nhân, quan hệ sản xuất thường tập trung vào lợi nhuận và lợi ích cá nhân, dẫn đến việc sở hữu tư nhân trở thành phổ biến. Trong khi đó, trong một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, quan hệ sản xuất thường tập trung vào công bằng và công bằng xã hội, dẫn đến việc sở hữu công cộng trở thành phổ biến. Tóm lại, sở hữu chịu sự quy định trực tiếp của quan hệ sản xuất, và nó có thể thay đổi tùy thuộc vào cách thức sản xuất và phân phối tài sản, nguồn lực và sản phẩm trong xã hội.
Mở trang câu hỏi này →
AKế hoạch và thị trường, hệ thống pháp luật, các công cụ tài chính-tiền tệ, công cụ điều tiết kinh tế đối ngoại
BKế hoạch và thị trường, kinh tế tư nhân, quản lý tiền tệ
CThuế, kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể
DHệ thống các chính sách kinh tế và xã hội
Lời giải
Công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự kết hợp giữa kế hoạch và thị trường. Nhà nước sử dụng hệ thống pháp luật để tạo ra môi trường kinh doanh ổn định và công bằng. Các công cụ tài chính-tiền tệ và công cụ điều tiết kinh tế đối ngoại được sử dụng để kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá hối đoái và khuyến khích đầu tư nước ngoài. Điều này giúp nhà nước thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội một cách hiệu quả.
Mở trang câu hỏi này →
ASản xuất hàng hóa nhỏ, kinh tế thị trường sơ khai, kinh tế thị trường hiện đại đan xen
BSản xuất hàng hóa lớn, kinh tế thị trường sơ khai, kinh tế thị trường đan xen
CSản xuất hàng hóa nhỏ, kinh tế thị trường hoàn thiện, kinh tế thị trường hiện đại
DSản xuất hàng hóa lớn, kinh tế thị trường hoàn thiện, kinh tế thị trường hiện đại đan xen
Lời giải
Kinh tế thị trường ở Việt Nam được đánh giá là đa dạng và phức tạp. Trình độ phát triển kinh tế thị trường ở nước ta có nhiều cấp độ khác nhau. Theo đánh giá, kinh tế thị trường ở Việt Nam bao gồm nhiều cấp độ, từ sản xuất hàng hóa nhỏ đến sản xuất hàng hóa lớn. Đồng thời, kinh tế thị trường ở Việt Nam cũng có sự hiện diện của cả kinh tế thị trường sơ khai và kinh tế thị trường hiện đại. Điều này cho thấy rằng kinh tế thị trường ở Việt Nam đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện.
Mở trang câu hỏi này →
AKinh tế thị trường có thể tự hình thành khi có các điều kiện khách quan.
BKinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa là mô hình tối ưu nhất cho mọi quốc gia.
CKinh tế thị trường là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh và hiệu quả.
DKinh tế thị trường giúp Việt Nam độc lập hoàn toàn khỏi các quy luật của thị trường toàn cầu.
Lời giải
Việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là tất yếu khách quan vì nó đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Kinh tế thị trường có thể tự hình thành khi có các điều kiện khách quan, như sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự thay đổi của thị trường thế giới và sự cần thiết của việc tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, kinh tế thị trường là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh và hiệu quả, giúp tăng cường năng suất lao động và nâng cao đời sống nhân dân. Điều này cho thấy rằng việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một quá trình tất yếu, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và giúp tăng cường vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Mở trang câu hỏi này →
AChỉ các quốc gia phát triển
BChỉ các quốc gia đang phát triển
CCác nước xã hội chủ nghĩa mới giành được chủ quyền dân tộc
DTất cả các quốc gia trên thế giới
Lời giải
Mong muốn dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là mục tiêu chung của tất cả các quốc gia trên thế giới. Mỗi quốc gia đều mong muốn phát triển và cải thiện cuộc sống của người dân, tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa. Điều này thể hiện trong các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc, bao gồm giảm nghèo, tăng cường giáo dục, chăm sóc sức khỏe, bảo vệ môi trường và thúc đẩy hòa bình và an ninh. Tất cả các quốc gia đều có chung mong muốn xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, nơi mà mọi người có cơ hội phát triển và sống tốt đẹp.
Mở trang câu hỏi này →
AĐại hội XI (2011)
BĐại hội X (2006)
CĐại hội VI (1986)
DĐại hội V (1982)
Lời giải
Đảng ta khẳng định nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản tại Đại hội XI (2011). Đây là một trong những định hướng quan trọng của Đảng ta trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế nước ta. Đại hội XI đã đánh giá lại quá trình thực hiện đường lối đổi mới, xác định mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới. Đảng ta đã khẳng định nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền tảng cho sự phát triển bền vững của đất nước.
Mở trang câu hỏi này →
AHướng tới phát triển lực lượng sản xuất.
BXây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.
CXây dựng chế độ sở hữu - công hữu mọi tư liệu sản xuất.
DNâng cao đời sống nhân dân, thực hiện “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Lời giải
Sự khác biệt về mục tiêu giữa kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa là một trong những vấn đề quan trọng trong kinh tế học. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hướng tới xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, nơi mà mọi người có cơ hội phát triển và hạnh phúc. Mục tiêu này được thể hiện qua việc nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Trong khi đó, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa tập trung vào việc phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, mục tiêu này có thể dẫn đến sự bất bình đẳng và không công bằng trong xã hội.
Mở trang câu hỏi này →
AĐại hội VII
BĐại hội VIII
CĐại hội IX
DĐại hội X
Lời giải
Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta được chính thức nêu ra ở Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đại hội IX được tổ chức vào năm 1986, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Tại Đại hội IX, Đảng Cộng sản Việt Nam đã công bố đường lối mới, tập trung vào việc xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu của mô hình này là kết hợp giữa nguyên tắc thị trường với nguyên tắc xã hội chủ nghĩa, nhằm tạo ra một nền kinh tế độc lập, tự chủ và phát triển bền vững. Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã trở thành nền tảng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong nhiều thập kỷ sau đó.
Mở trang câu hỏi này →
AMô hình kinh tế tổng quát
BMô hình kinh tế tập trung tổng quát
CMô hình kinh tế Nhà nước
DMô hình kinh tế tập trung
Lời giải
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế được áp dụng ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Mô hình này kết hợp giữa các yếu tố của kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong đó, kinh tế thị trường được sử dụng để kích thích sự phát triển kinh tế, tạo điều kiện cho sự cạnh tranh và phân phối nguồn lực một cách hiệu quả. Tuy nhiên, định hướng xã hội chủ nghĩa được áp dụng để đảm bảo sự công bằng và phân phối tài nguyên một cách công bằng hơn. Mô hình kinh tế này được thiết kế để tạo ra sự phát triển kinh tế nhanh chóng và bền vững, đồng thời đảm bảo sự công bằng và ổn định xã hội.
Mở trang câu hỏi này →
AQuyền lực
BVăn hóa
CLợi ích
DChính trị
Lời giải
Những quan hệ kinh tế của một xã hội nhất định được biểu hiện trước hết dưới hình thức lợi ích. Lợi ích là động lực cơ bản thúc đẩy hoạt động kinh tế của con người. Khi con người tham gia vào các hoạt động kinh tế, họ đều hướng tới mục tiêu đạt được lợi ích, chẳng hạn như kiếm tiền, tăng thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống. Lợi ích có thể được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn như tiền bạc, hàng hóa, dịch vụ, hoặc thậm chí là sự công nhận và uy tín. Quan hệ kinh tế giữa các cá nhân, tổ chức và xã hội được hình thành và phát triển dựa trên lợi ích này. Vì vậy, lợi ích là hình thức biểu hiện quan hệ kinh tế cơ bản của một xã hội.
Mở trang câu hỏi này →
ABiết phát huy sức mạnh về vốn trong nền kinh tế
BBiết phát huy sức mạnh về trí tuệ trong nền kinh tế
CBiết thỏa mãn được các quan hệ kinh tế với các nước xã hội chủ nghĩa
DBiết mở cửa và hội nhập
Lời giải
Lịch sử thế giới đã chứng minh rằng những nước có nền kinh tế thị trường phát triển nhanh đều là những nước biết mở cửa và hội nhập. Điều này có nghĩa là họ sẵn sàng tiếp nhận các yếu tố, công nghệ và kỹ thuật từ các nước khác, đồng thời tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế để tăng cường hợp tác và cạnh tranh. Việc mở cửa và hội nhập không chỉ giúp tăng cường sự phát triển kinh tế mà còn giúp nước đó trở thành một phần của cộng đồng quốc tế, tăng cường khả năng cạnh tranh và thu hút đầu tư. Các nước như Hàn Quốc, Singapore và Ireland là những ví dụ điển hình về sự thành công của mô hình kinh tế mở cửa và hội nhập.
Mở trang câu hỏi này →
APhát triển kinh tế và công nghiệp phải có sự nhảy vọt và không cần thực hiện tuần tự
BCoi trọng phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, xem đây là nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CPhát triển kinh tế tri thức được dời lại trong giai đoạn sau
DƯu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ
Lời giải
Để tiến hành công nghiệp hoá theo kiểu rút ngắn so với các nước đi trước, chúng ta cần coi trọng phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ. Điều này được xem là nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bằng cách này, chúng ta có thể tạo ra nguồn nhân lực có trình độ cao, có khả năng thích nghi và sáng tạo, từ đó thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Việc phát triển giáo dục và đào tạo cũng giúp chúng ta có thể áp dụng nhanh chóng và hiệu quả các công nghệ mới, từ đó tăng cường năng lực cạnh tranh và phát triển kinh tế.
Mở trang câu hỏi này →
ATừ yêu cầu phải xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội
BTừ yêu cầu phải rút ngắn khoảng cách tụt lùi về kinh tế, kĩ thuật, công nghệ giữa nước ta với các nước trong khu vực và quốc tế
CTừ yêu cầu cần phải tạo ra năng suất lao động xã hội cao, bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa xã hội
DTừ yêu cầu của thể chế chính trị của Việt Nam
Lời giải
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam là quá trình chuyển đổi cơ sở vật chất - kỹ thuật, nâng cao trình độ công nghệ, kỹ thuật và quản lý, nhằm đạt được sự phát triển nhanh chóng và bền vững. Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hóa, hiện đại hóa bao gồm các yêu cầu cơ bản sau: từ yêu cầu phải xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, từ yêu cầu phải rút ngắn khoảng cách tụt lùi về kinh tế, kỹ thuật, công nghệ giữa nước ta với các nước trong khu vực và quốc tế, từ yêu cầu cần phải tạo ra năng suất lao động xã hội cao, bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, yêu cầu của thể chế chính trị của Việt Nam không phải là tính tất yếu khách quan của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vì nó phụ thuộc vào các yếu tố chính trị và xã hội cụ thể.
Mở trang câu hỏi này →
AHiệp tác đơn giản, lao động thủ công, lao động phức tạp
BHiệp tác đơn giản, công trường thủ công, công nghiệp hoá
CHiệp tác đơn giản, sản xuất thủ công, sản xuất hiện đại
DHiệp tác đơn giản, công trường thủ công, đại công nghiệp
Lời giải
Khi nghiên cứu về cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, C. Mác đã khái quát tính quy luật của các mạng công nghiệp qua các giai đoạn phát triển đó là sự thay đổi từ hiệp tác đơn giản, công trường thủ công sang đại công nghiệp. Theo C. Mác, giai đoạn đầu của cách mạng công nghiệp lần thứ nhất là sự phát triển của công nghiệp thủ công, trong đó các sản phẩm được sản xuất bằng tay và sử dụng các công cụ đơn giản. Tuy nhiên, với sự phát triển của khoa học và công nghệ, các sản phẩm công nghiệp dần được sản xuất bằng máy móc và thiết bị hiện đại, dẫn đến sự hình thành của đại công nghiệp. Điều này cho thấy sự thay đổi từ công nghiệp thủ công sang công nghiệp hiện đại, từ đó tạo ra sự thay đổi lớn lao về sản xuất và đời sống của nhân dân.
Mở trang câu hỏi này →
ATư liệu lao động
BTư liệu sinh hoạt
CTư liệu tiêu dùng
DCác phát minh sáng chế
Lời giải
Mỗi cuộc cách mạng công nghiệp đều mang lại những thay đổi lớn lao về công nghệ và sản xuất. Sự phát triển nhảy vọt về tư liệu lao động là một trong những đặc điểm nổi bật của mỗi cuộc cách mạng công nghiệp. Tư liệu lao động bao gồm các công cụ, máy móc và thiết bị được sử dụng trong quá trình sản xuất. Khi công nghệ mới được phát triển, các công cụ và máy móc cũ trở nên lỗi thời và được thay thế bằng những thiết bị mới hiện đại hơn. Điều này dẫn đến sự gia tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất và tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. Ngoài ra, sự phát triển của tư liệu lao động cũng tạo điều kiện cho sự xuất hiện của các ngành công nghiệp mới và mở rộng của các ngành công nghiệp hiện có.
Mở trang câu hỏi này →