Danh sách câu hỏi của đề

Câu hỏi: LAE101 Law and Ethics in Media and Communication – Bộ ôn tập cuối kỳ số 1

50 câu trắc nghiệm kèm lời giải của môn LAE101 - Luật pháp và đạo đức trong lĩnh vực truyền thông, xếp đúng thứ tự trong đề. Trang 3/3 — câu 41–50.

Danh sách câu hỏi

50/50 câuHết danh sách
AApply for patent
BFile a tax complaint
CTake action under passing-off laws
DFile for copyright infringement
Lời giải
Đáp án đúng: "Take action under passing-off laws". Get-up là tổng thể cách trình bày thương mại của hàng hóa như bao bì, màu sắc, cách bày biện, thường không qua thủ tục đăng ký nên không có văn bằng độc quyền; cách bảo vệ là kiện theo chế định passing-off, nơi bên khởi kiện phải chứng minh uy tín thương mại đã gây dựng, hành vi trình bày gây nhầm lẫn cho công chúng và thiệt hại phát sinh từ sự nhầm lẫn đó. Cách làm "Apply for patent" không phù hợp vì sáng chế bảo hộ giải pháp kỹ thuật mới, không bảo hộ ấn tượng thị giác của bao bì, và việc nộp đơn cũng không xử lý được hành vi đã xảy ra. Cách làm "File a tax complaint" lạc sang quan hệ nghĩa vụ tài chính với nhà nước, không liên quan tới tranh chấp giữa hai doanh nghiệp về dấu hiệu nhận diện. Cách làm "File for copyright infringement" chỉ dùng được khi có tác phẩm mang dấu ấn sáng tạo bị sao chép, trong khi tổng thể cách bày hàng thường không đạt ngưỡng tác phẩm và thứ bị xâm phạm ở đây là uy tín trên thị trường.
Mở trang câu hỏi này →
AIf the product is cheap
BIf the license is public
CIf the license terms are exceeded or violated
DIf the design is unattractive
Lời giải
Đáp án đúng: "If the license terms are exceeded or violated". Giấy phép chỉ là sự cho phép có giới hạn: bên nhận được miễn trách trong đúng phạm vi đã thỏa thuận về lãnh thổ, thời hạn, kênh khai thác và mục đích sử dụng, nên phần sử dụng vượt ra ngoài những giới hạn đó không còn được che chắn và quay lại thành hành vi xâm phạm quyền. Lý lẽ "If the product is cheap" không đúng vì giá bán là chuyện thương mại, hàng rẻ hay đắt đều không làm thay đổi phạm vi quyền đã cấp. Lý lẽ "If the license is public" cũng không đúng vì việc công khai nội dung hợp đồng chỉ ảnh hưởng tới tính minh bạch, tự nó không tạo ra hay triệt tiêu hành vi xâm phạm. Lý lẽ "If the design is unattractive" chỉ là đánh giá thẩm mỹ của thị trường, trong khi tính hợp pháp của việc khai thác được xác định bằng điều khoản hợp đồng chứ không bằng mức độ đẹp xấu của sản phẩm.
Mở trang câu hỏi này →
AInvasion of privacy and the potential for discriminatory practices
BThe ethical use of data for improving employee performance
CEnsuring the accuracy of the content shared by employees
DPreventing employees from sharing company secrets
Lời giải
Đáp án đúng: "Invasion of privacy and the potential for discriminatory practices". Tài khoản mạng xã hội cá nhân nằm ngoài phạm vi quan hệ lao động và người lao động vẫn giữ kỳ vọng hợp lý về sự riêng tư ở đó; việc theo dõi thường xuyên làm lộ tôn giáo, quan điểm chính trị, sức khỏe hay đời sống riêng, tức những đặc điểm được pháp luật bảo vệ, khiến quyết định tuyển dụng và kỷ luật dễ bị dẫn dắt bởi định kiến. Cách đặt vấn đề "The ethical use of data for improving employee performance" chỉ bàn việc khai thác dữ liệu sao cho hiệu quả, bỏ qua điểm gây tranh cãi là giới hạn xâm nhập đời sống riêng. Cách đặt vấn đề "Ensuring the accuracy of the content shared by employees" biến người sử dụng lao động thành bên kiểm duyệt nội dung cá nhân, một vai trò họ không có. Cách đặt vấn đề "Preventing employees from sharing company secrets" là lợi ích chính đáng của doanh nghiệp và được xử lý bằng thỏa thuận bảo mật, nhưng đó là mục tiêu quản trị chứ không phải mối lo đạo đức mà việc giám sát tạo ra.
Mở trang câu hỏi này →
ALife of the person involved
B70 years from creation
C50 years from the year of creation
DUntil the software is deleted
Lời giải
Đáp án đúng: "50 years from the year of creation". Với tác phẩm do máy tính tạo ra mà không có tác giả là con người, pháp luật quyền tác giả của Anh không thể lấy đời người làm mốc tính, nên ấn định một thời hạn cố định là năm mươi năm kể từ cuối năm tác phẩm được tạo ra. Mốc "Life of the person involved" chỉ hợp với tác phẩm có tác giả là con người, nơi thời hạn gắn với cuộc đời tác giả rồi cộng thêm một khoảng sau khi qua đời; ở đây không xác định được cá nhân sáng tạo nên không thể dùng mốc ấy. Mốc "70 years from creation" nhầm con số bảy mươi năm vốn là phần cộng thêm tính từ cuối năm tác giả qua đời đối với tác phẩm thông thường, không phải khoảng tính từ lúc tạo ra. Mốc "Until the software is deleted" gắn hiệu lực bảo hộ với việc còn hay mất bản sao kỹ thuật số, trong khi quyền tác giả phát sinh và chấm dứt theo thời hạn luật định, độc lập với số phận của tệp tin.
Mở trang câu hỏi này →
A5 years
B10 years
CUnlimited
DUntil discontinued
Lời giải
Đáp án đúng: "5 years". Kiểu dáng được đăng ký ở Anh có hiệu lực ban đầu năm năm kể từ ngày nộp đơn, sau đó chủ sở hữu muốn duy trì thì phải nộp phí gia hạn theo từng chu kỳ năm năm, và tổng thời gian bảo hộ tối đa là hai mươi lăm năm. Con số "10 years" không đúng vì mười năm không phải chu kỳ của hệ thống đăng ký kiểu dáng, đây là mốc dễ nhầm với các quyền khác có nhịp gia hạn dài hơn. Cách hiểu "Unlimited" trái với bản chất đánh đổi của quyền sở hữu công nghiệp, vì nhà nước trao độc quyền có thời hạn để khuyến khích sáng tạo, hết hạn thì kiểu dáng thuộc về công chúng. Cách hiểu "Until discontinued" gắn hiệu lực với việc doanh nghiệp còn sản xuất hay đã ngừng bán, trong khi hiệu lực của văn bằng phụ thuộc vào việc nộp phí gia hạn đúng hạn chứ không phụ thuộc hoạt động kinh doanh thực tế.
Mở trang câu hỏi này →
APrivate performance
BNon-exclusive license to a third party
CFair use
DPrivacy waiver
Lời giải
Đáp án đúng: "Non-exclusive license to a third party". Khi đã trao giấy phép độc quyền, chủ sở hữu tự ràng buộc mình không cấp quyền khai thác cùng phạm vi cho bất kỳ ai khác và thường không tự khai thác nữa, nên mọi giấy phép cấp sau cho bên khác đều vi phạm cam kết đó và làm phát sinh trách nhiệm với bên đang giữ độc quyền. Trường hợp "Private performance" là việc trình diễn trong phạm vi riêng tư, vốn không thuộc nhóm hành vi khai thác công cộng nên không chạm tới phần quyền đã trao. Trường hợp "Fair use" nói tới các ngoại lệ sử dụng hợp lý do luật định, tồn tại độc lập với hợp đồng và không phải quyền do chủ sở hữu cấp phát nên không xung đột với cam kết độc quyền. Trường hợp "Privacy waiver" là sự đồng ý liên quan tới hình ảnh và đời tư của cá nhân, thuộc một quan hệ pháp lý khác hẳn việc phân chia quyền khai thác tài sản trí tuệ.
Mở trang câu hỏi này →
AFunctional utility
BMarket popularity
CNovelty and individual character
DCommercial success
Lời giải
Đáp án đúng: "Novelty and individual character". Một kiểu dáng chỉ được đăng ký khi chưa có kiểu dáng giống hệt nào bộc lộ công khai trước đó và khi tổng thể hình thức của nó tạo ra ấn tượng khác biệt đối với người sử dụng hiểu biết, tức hai điều kiện về tính mới và đặc tính riêng. Yêu cầu "Functional utility" thuộc về công dụng kỹ thuật và được xem xét ở chế định sáng chế; phần hình dáng thuần túy do chức năng kỹ thuật quyết định còn bị loại khỏi phạm vi bảo hộ kiểu dáng. Yêu cầu "Market popularity" đo mức độ được người tiêu dùng biết tới, một dữ kiện chỉ có sau khi sản phẩm đã bán, trong khi điều kiện đăng ký được xét ngay tại thời điểm nộp đơn. Yêu cầu "Commercial success" cũng vậy, doanh thu cao chỉ phản ánh hiệu quả kinh doanh và không nói gì về việc hình thức sản phẩm có mới và có khác biệt hay không.
Mở trang câu hỏi này →
ABad faith
BPrior use
CDilution exemption
DMisrepresentation
Lời giải
Đáp án đúng: "Prior use". Người đã dùng liên tục một dấu hiệu trong hoạt động thương mại trước ngày nộp đơn của bên đăng ký sau được giữ quyền tiếp tục dùng trong đúng phạm vi và địa bàn đã khai thác, vì uy tín gây dựng trên thực tế không bị xóa bỏ bởi một đăng ký ra đời muộn hơn. Lập luận "Bad faith" là căn cứ để tấn công hiệu lực của đăng ký khi người nộp đơn có ý đồ không trung thực, chứ bản thân nó không giải thích cho việc một người được phép dùng dấu hiệu nhờ đã dùng trước. Lập luận "Dilution exemption" xoay quanh việc làm lu mờ nhãn hiệu nổi tiếng và không tạo thành một quyền sử dụng dành cho người đi trước. Lập luận "Misrepresentation" là yếu tố mà bên khởi kiện phải chứng minh trong vụ việc về hành vi gây nhầm lẫn, tức thuộc phía buộc tội chứ không phải lý lẽ bào chữa.
Mở trang câu hỏi này →
AThe mark becomes stronger
BThe protection may not cover intended goods or services
CIt becomes global
DIt's registered as a patent
Lời giải
Đáp án đúng: "The protection may not cover intended goods or services". Nhãn hiệu được bảo hộ theo nguyên tắc chuyên biệt: phạm vi độc quyền chỉ trải trên đúng những nhóm hàng hóa và dịch vụ đã khai trong đơn, nên chọn nhầm nhóm đồng nghĩa với việc mặt hàng thực sự đang kinh doanh nằm ngoài vùng được bảo vệ và chủ đơn khó ngăn người khác dùng dấu hiệu tương tự cho chính sản phẩm của mình. Suy đoán "The mark becomes stronger" đi ngược logic, vì khai sai nhóm làm hẹp chứ không làm mạnh thêm quyền. Suy đoán "It becomes global" cũng sai vì hiệu lực đăng ký giới hạn theo lãnh thổ nơi cấp, muốn ra nước ngoài phải nộp đơn hoặc chỉ định quốc gia theo hệ thống quốc tế. Suy đoán "It's registered as a patent" nhầm lẫn hai đối tượng khác nhau, vì cơ quan đăng ký không tự biến một đơn nhãn hiệu thành đơn sáng chế, hai thủ tục có điều kiện và hồ sơ riêng.
Mở trang câu hỏi này →
AFor viral content
BTo avoid legal consequences and protect consumers
CTo gain shares
DTo increase likes
Lời giải
Đáp án đúng: "To avoid legal consequences and protect consumers". Cuộc thi và chương trình khuyến mại chịu những quy định bắt buộc về thể lệ rõ ràng, công bố điều kiện tham gia, cách chọn người thắng, thời hạn và giá trị giải thưởng, đồng thời phải tránh biến tướng thành trò may rủi có thu tiền; tuân thủ vừa giúp đơn vị tổ chức tránh chế tài và khiếu nại, vừa bảo đảm người tham gia không bị đánh lừa. Mục tiêu "For viral content" chỉ là kỳ vọng truyền thông, và một chương trình lan truyền mạnh nhưng thể lệ mập mờ còn khuếch đại thiệt hại cho người tham gia. Mục tiêu "To gain shares" đo hiệu quả tiếp cận chứ không nói gì tới nghĩa vụ công bố thông tin trung thực. Mục tiêu "To increase likes" cũng là chỉ số tương tác bề mặt, không phải lý do khiến pháp luật đặt ra yêu cầu về minh bạch thể lệ và bảo vệ người tiêu dùng.
Mở trang câu hỏi này →