Cơ chế thị trường trong nền kinh tế Việt Nam từ năm 1986 đến 1991 được xem là chưa đầy đủ. Khi đó, Việt Nam bắt đầu thực hiện các chính sách kinh tế thị trường, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Hệ thống kinh tế kế hoạch hóa tập trung vẫn còn tồn tại, và các doanh nghiệp nhà nước vẫn giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Thị trường hàng hóa và dịch vụ cũng chưa được hoàn thiện, và các quy định về thuế, phí và lệ phí còn phức tạp. Ngoài ra, hệ thống tài chính và tiền tệ cũng chưa được hoàn thiện, và các công cụ tài chính như trái phiếu, cổ phiếu, và các loại chứng khoán khác chưa được phát triển. Vì vậy, cơ chế thị trường trong nền kinh tế Việt Nam từ năm 1986 đến 1991 được xem là chưa đầy đủ.
Tất cả câu hỏi
Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm có đáp án và giải thích chi tiết.
Ngoại giao Việt Nam thời kỳ trước đổi mới (1945 - 1975) đã đóng vai trò quan trọng trong việc tranh thủ được nguồn viện trợ đáng kể từ quốc tế, góp phần khôi phục đất nước sau chiến tranh. Sau khi giành được độc lập vào năm 1945, Việt Nam đã phải đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm chiến tranh chống lại Pháp và sau đó là chiến tranh chống lại Mỹ. Trong thời kỳ này, Việt Nam đã phải tìm kiếm sự hỗ trợ từ quốc tế để duy trì sự tồn tại và phát triển của mình. Ngoại giao Việt Nam đã tập trung vào việc xây dựng quan hệ với các quốc gia xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc, để nhận được viện trợ kinh tế và quân sự. Điều này đã giúp Việt Nam có thể duy trì sự tồn tại và thậm chí còn có thể tiến hành các chiến dịch quân sự chống lại đối phương. Vì vậy, ngoại giao Việt Nam thời kỳ trước đổi mới (1945 - 1975) đã đóng vai trò quan trọng trong việc tranh thủ được nguồn viện trợ đáng kể từ quốc tế, góp phần khôi phục đất nước sau chiến tranh.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (1976), Đảng ta đã đưa ra một số chủ trương, nhận định quan trọng về quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trong đó, có một nhận định được đánh giá là chủ quan, nóng vội. Đó là nhận định 'Hoàn thành về cơ bản quá trình đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa trong khoảng 20 năm'. Đây là một mục tiêu khá mơ hồ và không thực tế, không phù hợp với tình hình thực tế của đất nước vào thời điểm đó. Thực tế, quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một quá trình phức tạp, lâu dài và đòi hỏi sự nỗ lực, kiên nhẫn của toàn dân tộc. Vì vậy, nhận định này đã được đánh giá là chủ quan, nóng vội và không phù hợp với tình hình thực tế.
Đáp án đúng: C. Chính cương Đảng Lao động Việt Nam thông qua tại Đại hội II (2/1951) xác định cách mạng Việt Nam có ba nhiệm vụ: đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc; xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng; phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội. A thiếu vế "người cày có ruộng". B thiếu vế ruộng đất và dân chủ nhân dân. D bỏ mất nhiệm vụ hàng đầu là đánh đuổi đế quốc. Chỉ C bao được cả ba trục: dân tộc, dân chủ và định hướng đi lên.
Chủ trương 'Đoàn kết, tập hợp lực lượng cách mạng nhằm giải phóng dân tộc' là một trong những nguyên tắc cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo đó, Đảng đã quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh vào năm 1941, với mục tiêu chính là đoàn kết và tập hợp các lực lượng cách mạng trong nước nhằm giải phóng dân tộc khỏi sự chiếm đóng của thực dân Pháp. Mặt trận Việt Minh được thành lập trên cơ sở thống nhất của các đảng và tổ chức cách mạng trong nước, bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Quốc dân Đảng, Đảng Dân chủ Việt Nam và các tổ chức dân tộc, tôn giáo, xã hội khác. Mục tiêu của Mặt trận Việt Minh là xây dựng một chính quyền dân chủ, độc lập và tự do cho nhân dân Việt Nam.
Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội là đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Họ là cầu nối giữa nhân dân và chính quyền, giúp nhân dân tham gia vào quá trình quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cũng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, đặc biệt là những người yếu thế trong xã hội.
Đáp án đúng: B. Nhiệm vụ "chống phát xít, chống chiến tranh đế quốc, chống bọn phản động thuộc địa và tay sai, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình" được Đảng đề ra tại Hội nghị Trung ương tháng 7/1936, mở đầu giai đoạn 1936-1939. A giai đoạn 1930-1931 nêu khẩu hiệu chống đế quốc, chống phong kiến, đòi độc lập dân tộc và ruộng đất. C giai đoạn 1939-1945 đặt giải phóng dân tộc lên hàng đầu, đánh Pháp đuổi Nhật. D giai đoạn 1945-1954 là kháng chiến chống thực dân Pháp.
Sau khi Việt Nam thống nhất vào năm 1975, đất nước bước vào thời kỳ mới. Lãnh đạo đất nước lúc này là Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng. Ông là một trong những người lãnh đạo quan trọng của Việt Nam trong thời kỳ này. Ông đã đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển đất nước sau khi thống nhất. Trong thời gian này, ông đã tập trung vào việc xây dựng nền kinh tế độc lập, phát triển giáo dục và y tế, cũng như củng cố nền quốc phòng. Ông cũng đã tham gia vào các hoạt động quốc tế, giúp Việt Nam trở thành thành viên của Liên Hợp Quốc. Với sự lãnh đạo của ông, đất nước đã có bước phát triển nhanh chóng và ổn định.
Từ năm 1954 đến năm 1975, Mỹ đã thực hiện nhiều chiến lược và phương pháp khác nhau trong cuộc chiến tại Việt Nam. Theo quan điểm của nhiều học giả và nhà nghiên cứu, Mỹ đã thực hiện 4 loại hình chiến tranh chính tại Việt Nam. Trước hết, đó là chiến tranh truyền thống, bao gồm các hoạt động quân sự trực tiếp như tấn công, phòng thủ và phản công. Thứ hai, Mỹ đã sử dụng chiến tranh không gian, bao gồm các hoạt động không quân và hải quân để hỗ trợ cho các hoạt động trên bộ. Thứ ba, Mỹ đã thực hiện chiến tranh tâm lý, bao gồm các hoạt động tuyên truyền và vận động dư luận để ảnh hưởng đến ý chí và quyết định của người dân Việt Nam. Cuối cùng, Mỹ đã sử dụng chiến tranh kinh tế, bao gồm các biện pháp như phong tỏa, cấm vận và phá hoại nền kinh tế Việt Nam để đạt được mục tiêu của mình. Tóm lại, Mỹ đã thực hiện 4 loại hình chiến tranh khác nhau tại Việt Nam trong thời kỳ từ năm 1954 đến năm 1975.
Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta được chính thức nêu ra ở Đại hội IX của Đảng. Đại hội IX là sự kiện quan trọng trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, diễn ra vào năm 1976. Tại đại hội này, Đảng đã xác định rõ mục tiêu và phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của nước ta. Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xem là một bước tiến quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế nước ta. Mô hình này kết hợp giữa các yếu tố của kinh tế thị trường với các nguyên tắc của xã hội chủ nghĩa, nhằm tạo ra một nền kinh tế độc lập, tự chủ và phát triển bền vững.
Hội nghị Trung ương 6 được tổ chức vào tháng 8/1979, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Tại hội nghị này, Đảng đã quyết định chuyển hướng phát triển kinh tế, từ mô hình kế hoạch hóa tập trung sang mô hình kinh tế thị trường. Đây được coi là bước đột phá đầu tiên của Đảng trong lĩnh vực đổi mới kinh tế. Bước chuyển đổi này nhằm mục đích cải thiện hiệu quả sản xuất, tăng cường cạnh tranh và thu hút đầu tư nước ngoài. Qua đó, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế nhanh chóng và bền vững của đất nước.
Trong giai đoạn 1965 - 1968, Mỹ đã chuyển sang chiến lược chiến tranh cục bộ ở miền Nam Việt Nam. Chiến lược này được thực hiện nhằm mục đích ngăn chặn sự mở rộng của quân đội Bắc Việt Nam và bảo vệ các thành phố quan trọng. Mỹ đã tăng cường quân sự hóa miền Nam, triển khai các lực lượng đặc biệt và sử dụng các phương tiện quân sự hiện đại để tấn công vào các lực lượng của Bắc Việt Nam. Chiến lược này cũng bao gồm việc hỗ trợ và huấn luyện cho quân đội miền Nam Việt Nam, nhằm tăng cường khả năng chống lại quân đội Bắc Việt Nam. Mục tiêu của chiến lược này là ngăn chặn sự mở rộng của Bắc Việt Nam và bảo vệ miền Nam Việt Nam khỏi sự xâm lược.
Công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước là một quá trình phức tạp, đòi hỏi sự tham gia và đóng góp của toàn bộ nhân dân. Mỗi người dân, bất kể vị trí, vai trò hay trình độ, đều có thể đóng góp vào sự nghiệp này thông qua việc học tập, lao động và sáng tạo. Tuy nhiên, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có vai trò lãnh đạo và chỉ đạo quan trọng trong quá trình này. Họ đã xây dựng và thực hiện các chính sách, kế hoạch nhằm thúc đẩy công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đồng thời tạo điều kiện cho người dân tham gia và phát triển. Vì vậy, cả hai lựa chọn 'Toàn dân' và 'Đảng Cộng sản Việt Nam' đều có thể được coi là đúng.
Đại hội Đảng lần thứ VIII diễn ra trong bối cảnh cách mạng khoa học và công nghệ phát triển với trình độ cao, đồng thời chủ nghĩa xã hội hiện thực đang lâm vào thoái trào. Điều này có nghĩa là thời điểm đó, thế giới đang chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và khoa học, trong khi các nước xã hội chủ nghĩa đang đối mặt với những khó khăn và thách thức trong việc duy trì mô hình kinh tế và xã hội của mình. Bối cảnh này đã đặt ra những thách thức lớn cho Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc xây dựng và phát triển đất nước.
Chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam là một chiến lược phức tạp và đa dạng. Tuy nhiên, âm mưu chính của Mỹ là sử dụng lực lượng địa phương để thực hiện các mục tiêu chiến lược của họ. Trong trường hợp này, Mỹ đã sử dụng lực lượng Việt Nam Cộng hòa và các lực lượng thân Mỹ khác để tấn công vào lực lượng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Điều này được thể hiện trong câu trả lời đúng là "Dùng người Việt đánh người Việt", vì Mỹ đã sử dụng lực lượng Việt Nam Cộng hòa để tấn công vào lực lượng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Điều này cho thấy rằng chiến lược của Mỹ là sử dụng lực lượng địa phương để thực hiện các mục tiêu chiến lược của họ, thay vì sử dụng lực lượng của mình trực tiếp.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Đại hội Đảng lần thứ VII (1991) thông qua, xác định xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng có 6 đặc trưng cơ bản. Đó là: nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, trong đó có chế độ sở hữu tập thể là hình thức sở hữu cơ bản; nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự quyết; nền kinh tế phát triển toàn diện, bền vững; xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; quốc phòng toàn dân, quân dân yểm hộ lẫn nhau; quốc tế bình đẳng, hợp tác, hữu nghị. Mỗi đặc trưng đều đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển xã hội xã hội chủ nghĩa.
Chủ đề của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam là tăng cường chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp sức mạnh thời đại, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là một trong những nội dung quan trọng được nêu tại Đại hội.
Cuộc kháng chiến chống Pháp của quân và dân ta đã đạt được nhiều chiến thắng quan trọng, trong đó có chiến thắng Điện Biên Phủ 1954. Chiến thắng này đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Việt Nam, khi quân đội Pháp bị đánh bại hoàn toàn và phải rút khỏi Việt Nam. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã phá sản hoàn toàn kế hoạch Nava của Pháp, kế hoạch này nhằm tái chiếm miền Bắc Việt Nam và khôi phục lại sự thống trị của Pháp tại Việt Nam. Chiến thắng này cũng đã tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh của quân và dân ta trong thời gian sau này, giúp chúng ta giành được độc lập và thống nhất đất nước.
Sau khi Pháp và Tưởng ký hiệp ước Trùng Khánh vào ngày 28-2-1946, Đảng ta đã phải đối mặt với một tình huống khó khăn. Thực dân Pháp vẫn còn nắm quyền lực và đang tìm cách khôi phục lại sự thống trị của mình. Trong khi đó, quân đội Tưởng cũng đang có ý định xâm lược Việt Nam. Trong tình huống này, Đảng ta đã lựa chọn giải pháp thương lượng và hoà hoãn với Pháp. Điều này có nghĩa là Đảng ta đã quyết định không đối đầu trực tiếp với Pháp và Tưởng, mà thay vào đó là tìm cách thương lượng và hoà hoãn để giải quyết các vấn đề. Giải pháp này được lựa chọn vì Đảng ta muốn tránh xung đột và tìm cách giải quyết các vấn đề một cách hòa bình.
Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) tháng 7/2007 đã ban hành Nghị quyết số 14-NQ/TW. Nội dung chính của nghị quyết này liên quan đến việc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng. Điều này nhằm mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động của Đảng, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm kỷ luật, kỷ cương của Đảng. Nghị quyết cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm tra, giám sát trong việc duy trì sự trong sạch, vững mạnh của Đảng. Việc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng giúp đảm bảo tính minh bạch, trách nhiệm và hiệu quả trong hoạt động của Đảng.