Cuối kỳ · VNR202 · Spring 2026
Ôn tập cuối kỳ VNR202 Spring 2026
179 câu gom từ 3 đề ôn của kỳ Spring 2026. 3 đề cộng lại là 180 lượt câu nhưng chỉ 179 câu khác nhau — một phần câu xuất hiện lại giữa các ca.
3 đề gốc
Bấm để làm trọn một đề thay vì tra từng câu
179 câu hỏi
Trang 5 / 9Chính cương của Đảng lao động Việt Nam đã nêu ra các nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam là:4 lựa chọn
AĐánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc; Xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng; Phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội
BĐánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc; Xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng; Phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở cho xã hội dân chủ.
CĐánh đuổi bọn phong kiến, giành độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc; Xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng; Phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội
DĐánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc; Xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng; Phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở cho xã hội mới
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Chính cương của Đảng lao động Việt Nam đã nêu ra các nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam. Những nhiệm vụ này bao gồm: Đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc. Điều này có nghĩa là Việt Nam cần phải tự do khỏi sự chiếm đóng của các nước đế quốc và thống nhất toàn bộ lãnh thổ. Ngoài ra, Đảng lao động Việt Nam cũng đề ra nhiệm vụ xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng. Điều này có nghĩa là cần phải loại bỏ hệ thống phong kiến và phân chia ruộng đất để người nông dân có thể tự do sản xuất và sống. Cuối cùng, Đảng lao động Việt Nam cũng đề ra nhiệm vụ phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội. Điều này có nghĩa là cần phải xây dựng một xã hội dân chủ và công bằng, nơi mà mọi người đều có quyền bình đẳng và tự do.
AHơn 60% dân số không biết chữ
BHơn 70% dân số không biết chữ
CHơn 80% dân số không biết chữ
DHơn 90% dân số không biết chữ
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước ta vẫn còn khoảng 90% dân số mù chữ. Điều này cho thấy mức độ phổ biến của nạn mù chữ rất cao trong xã hội Việt Nam thời bấy giờ. Thực tế, chính sách cai trị của thực dân Pháp đã khiến cho giáo dục không được phát triển, dẫn đến số lượng người biết chữ rất thấp. Nạn mù chữ không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của người dân mà còn hạn chế sự phát triển của đất nước. Vì vậy, việc giảm thiểu nạn mù chữ trở thành một vấn đề quan trọng trong thời kỳ này.
AHội nghị Trung ương lần thứ 12 (3/1957)
BHội nghị Trung ương lần thứ 13 (12/1957)
CHội nghị Trung ương lần thứ 14 (11/1958)
DHội nghị Trung ương lần thứ 15 (1/1959)
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Hội nghị Trung ương lần thứ 15 của Đảng được tổ chức vào tháng 1 năm 1959, tại đây đã đề ra nghị quyết mở đường cho sự bùng nổ của phong trào Đồng Khởi ở miền Nam đầu năm 1960. Phong trào Đồng Khởi là một phong trào yêu nước, đấu tranh cho độc lập và tự do của nhân dân miền Nam Việt Nam. Nó được xem là một trong những phong trào quan trọng trong lịch sử Việt Nam, thể hiện tinh thần yêu nước và quyết tâm của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống lại sự chiếm đóng và áp bức của thực dân Pháp và sau đó là Mỹ.
ALuật 10/59
BLuật nhân quyền
CLuật bình định
DCác phương án trả lời đều đúng
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Để thực hiện chính sách 'Tố cộng, diệt cộng', Ngô Đình Diệm đã đưa ra một loạt các biện pháp, trong đó có Luật 10/59. Luật này được ban hành vào năm 1956 và được thiết kế để chống lại các hoạt động của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, một tổ chức cộng sản. Luật 10/59 cho phép chính phủ Việt Nam Cộng hòa tịch thu tài sản của các tổ chức và cá nhân được coi là 'cộng sản', bao gồm cả tài sản của các tổ chức tôn giáo và các tổ chức phi chính phủ. Luật này cũng cho phép chính phủ Việt Nam Cộng hòa cấm các hoạt động của các tổ chức được coi là 'cộng sản' và cho phép chính phủ tịch thu tài sản của các cá nhân được coi là 'cộng sản'. Luật 10/59 được coi là một trong những công cụ chính để thực hiện chính sách 'Tố cộng, diệt cộng' của Ngô Đình Diệm.
Cuộc tập dượt thứ nhất của Đảng chuẩn bị cho thắng lợi của cách mạng tháng Tám là giai đoạn:4 lựa chọn
A1930 - 1931
B1936 - 1939
C1939 - 1945
D1945 - 1954
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Cuộc tập dượt thứ nhất của Đảng chuẩn bị cho thắng lợi của cách mạng tháng Tám là giai đoạn từ năm 1930 đến 1931. Đây là giai đoạn quan trọng trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, khi Đảng đã bắt đầu xây dựng và củng cố lực lượng, chuẩn bị cho cuộc cách mạng toàn diện. Trong giai đoạn này, Đảng đã thực hiện nhiều hoạt động quan trọng như xây dựng cơ sở, tổ chức các phong trào đấu tranh, và chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa tháng Tám năm 1945. Cuộc tập dượt thứ nhất của Đảng đã giúp Đảng củng cố được lực lượng, tăng cường được sự đoàn kết và thống nhất trong nội bộ, và chuẩn bị được cho cuộc cách mạng toàn diện.
AGửi Bản yêu sách của nhân dân An Nam (1919)
BBỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản, sáng lập Đảng Cộng sản Pháp (1920)
CĐọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa (1920)
DDự Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản (1924)
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tìm thấy ở Chủ nghĩa Lênin con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam thông qua việc đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa. Đây là một trong những tác phẩm quan trọng của Lênin, trong đó ông phân tích sâu sắc về vấn đề dân tộc và thuộc địa, chỉ ra rằng dân tộc bị áp bức và thuộc địa hóa là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự phát triển không bình đẳng giữa các quốc gia. Nguyễn Ái Quốc đã đọc và nghiên cứu kỹ lưỡng tác phẩm này, và từ đó đã tìm thấy sự hiểu biết sâu sắc về bản chất của vấn đề dân tộc và thuộc địa ở Việt Nam. Ông đã nhận ra rằng để giải phóng dân tộc Việt Nam, cần phải xây dựng một phong trào cách mạng mạnh mẽ, dựa trên sự đoàn kết và thống nhất của toàn dân tộc.
AĐông Dương Cộng sản Liên đoàn
BAn Nam Cộng sản Đảng
CĐông Dương Cộng sản Đảng
DQuốc tế Cộng sản
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra vào đầu năm 1930. Đại biểu từ các tổ chức cộng sản khác nhau đã tham dự hội nghị này. Tuy nhiên, Đại biểu của tổ chức Đông Dương Cộng sản Liên đoàn không tham dự hội nghị này. Điều này có thể là do họ không được mời hoặc không thể tham dự do lý do nào đó. Trong khi đó, Đại biểu của An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Đảng và Quốc tế Cộng sản đã tham dự hội nghị thành lập Đảng.
AMặt trận nhân dân phản đế Đông Dương
BMặt trận dân chủ Đông Dương
CHội phản đế Đông Dương
DMặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Mặt trận được xây dựng thời kỳ cách mạng 1930 - 1931 được gọi tên là Hội phản đế Đông Dương. Đây là một tổ chức chính trị được thành lập vào năm 1930 với mục đích chống lại sự chiếm đóng của thực dân Pháp tại Đông Dương. Hội phản đế Đông Dương đã trở thành một trong những tổ chức chính trị quan trọng trong phong trào cách mạng Việt Nam thời kỳ đó. Tổ chức này đã tập hợp các lực lượng chống thực dân, bao gồm cả các trí thức, nông dân và nhân dân các tầng lớp khác nhau, để đấu tranh cho độc lập và tự do của Việt Nam.
Hội nghị Ban Chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam(10/1930) quyết định đổi tên Đảng thành:4 lựa chọn
AĐông Dương Cộng sản Đảng
BĐảng Lao động Việt Nam
CĐảng Cộng sản Đông Dương
DĐảng An Nam
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Hội nghị Ban Chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức vào tháng 10 năm 1930 đã đưa ra quyết định quan trọng về tên gọi của Đảng. Theo đó, Đảng đã đổi tên từ 'Đảng Cộng sản Đông Dương' thành 'Đảng Cộng sản Đông Dương'. Đây là một bước tiến quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển của Đảng. Tên gọi mới phản ánh mục tiêu và tầm nhìn của Đảng, đó là đấu tranh cho độc lập và tự do cho nhân dân Việt Nam và các dân tộc Đông Dương. Quyết định này cũng thể hiện sự đổi mới và phát triển của Đảng trong giai đoạn đó.
AHà Nội
BChiêm Hóa (Tuyên Quang)
CCửu Long- Hương Cảng-Trung Quốc
DQuảng Châu- Trung Quốc
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra vào tháng 2 năm 1930. Tuy nhiên, không phải ở bất kỳ địa điểm nào trong các lựa chọn trên. Hội nghị này được tổ chức tại Tân Trào, huyện Bá Thiện, tỉnh Sơn Tây (nay là tỉnh Sơn La). Đây là nơi đặt trụ sở ban đầu của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, câu trả lời đúng không phải là bất kỳ địa điểm nào trong các lựa chọn trên.
AKhông đặt nhiệm vụ phản đế quốc lên hàng đầu
BĐặt nhiệm vụ phản đế quốc lên hàng đầu
CKhông xác định được nhiệm vụ nào cần được đặt lên hàng đầu
DĐặt nhiệm vụ phản đế quốc ngang bằng nhiệm vụ phản phong kiến
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Luận cương chính trị tháng 10/1930 đã có điểm khác biệt so với Cương lĩnh chính trị đầu tiên trong việc giải quyết các nhiệm vụ phản đế quốc và phản phong kiến. Cương lĩnh chính trị đầu tiên chỉ tập trung vào việc phản phong kiến, trong khi Luận cương chính trị tháng 10/1930 đã đặt nhiệm vụ phản đế quốc lên ngang hàng với nhiệm vụ phản phong kiến. Điều này cho thấy sự thay đổi trong quan điểm và chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đó. Việc đặt nhiệm vụ phản đế quốc lên ngang hàng với nhiệm vụ phản phong kiến thể hiện sự nhận thức sâu sắc hơn về tầm quan trọng của việc chống lại sự chiếm đóng và áp bức của đế quốc.
ANhằm tập hợp rộng rãi nông dân chống đế quốc
BTạm gác lại khẩu hiệu "đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày"
CĐể đoàn kết, tập hợp lực lượng cách mạng nhằm giải phóng dân tộc
DNhằm tranh thủ lực lượng đồng minh chống phát xít Nhật
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Đảng chủ trương thành lập mặt trận Việt Minh nhằm đoàn kết, tập hợp lực lượng cách mạng nhằm giải phóng dân tộc. Mặt trận Việt Minh được thành lập vào năm 1941, với mục đích chính là đoàn kết các lực lượng cách mạng trong nước và quốc tế để chống lại sự chiếm đóng của Nhật Bản và thực dân Pháp. Việc thành lập mặt trận Việt Minh đã giúp tập hợp được lực lượng rộng rãi, bao gồm các đảng phái, đoàn thể, và cá nhân có cùng mục tiêu giải phóng dân tộc. Điều này đã tạo nên một sức mạnh lớn, giúp Việt Minh trở thành một lực lượng chính trị quan trọng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
AAn Nam Cộng sản Đảng
BĐông Dương Cộng sản Đảng
CĐông Dương Cộng sản Liên đoàn
DĐảng Cộng sản Việt Nam
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Năm 1929, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã trải qua một sự kiện quan trọng khi phân hóa thành hai tổ chức chính trị khác nhau. Đây là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Câu hỏi này yêu cầu học sinh chọn đúng hai tổ chức được hình thành từ sự phân hóa này. Các lựa chọn bao gồm An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn và Đảng Cộng sản Việt Nam. Để trả lời đúng, học sinh cần hiểu rõ về quá trình hình thành và phát triển của các tổ chức chính trị trong thời kỳ này. Sự phân hóa của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã dẫn đến sự ra đời của hai tổ chức mới, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Đảng. Đây là hai tổ chức có vai trò quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam.
AChính trị
BQuân sự
CKinh tế
DVăn hóa
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân Đông Dương (1953 - 1954) là một giai đoạn quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Cuộc kháng chiến này kết thúc bằng giải pháp chính trị, khi quân đội Việt Minh dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh đã ký kết Hiệp định Genève vào ngày 21/7/1954. Hiệp định này đã đưa ra giải pháp chia Đông Dương thành ba vùng, trong đó Việt Nam được chia thành hai vùng, một thuộc phía Bắc và một thuộc phía Nam. Giải pháp chính trị này đã giúp chấm dứt cuộc chiến tranh và mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử Việt Nam.
Chủ trương nào không có trong Chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" (3/1945)?4 lựa chọn
AThông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh
BThay khẩu hiệu "đánh đuổi phát xít Nhật - Pháp" bằng khẩu hiệu "đánh đuổi phát xít Nhật"
CNêu khẩu hiệu "thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân Đông Dương"
DPhát động một cao trào kháng Nhật cứu nước
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Chỉ thị 'Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta' được ban hành vào tháng 3 năm 1945. Chỉ thị này đưa ra các chủ trương quan trọng để hướng dẫn hành động của Việt Minh trong thời điểm đó. Trong các lựa chọn, 'Thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh' không phải là một chủ trương được đề cập trong Chỉ thị này. Chỉ thị này tập trung vào việc phát động cao trào kháng Nhật cứu nước, thay đổi khẩu hiệu và nêu khẩu hiệu thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân Đông Dương. Vì vậy, 'Thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh' không phải là một chủ trương có trong Chỉ thị này.
ATác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933
BChính sách khủng bố trắng của đế quốc Pháp
CChính sách tăng cường vơ vét bóc lột của đế quốc Pháp
DSự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Nguyên nhân chủ yếu và có ý nghĩa quyết định sự bùng nổ và phát triển của cao trào cách mạng Việt Nam năm 1930 là sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tổ chức thành công cuộc khởi nghĩa tháng Tám, đánh dấu sự bùng nổ của cao trào cách mạng Việt Nam. Sự lãnh đạo của Đảng đã giúp cho phong trào cách mạng trở nên mạnh mẽ và rộng lớn hơn, thu hút được đông đảo quần chúng tham gia. Sự lãnh đạo này cũng đã giúp cho phong trào cách mạng đạt được những kết quả quan trọng, như việc thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng Việt Nam và việc tổ chức các phong trào đấu tranh mạnh mẽ chống lại chế độ thực dân Pháp.
AKẻ thù chính
BKẻ thù phụ
CKhông nguy hiểm
DChờ giải giáp của quân đồng minh
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Đảng Cộng sản Đông Dương đã xác định thực dân Pháp là kẻ thù chính. Điều này có nghĩa là thực dân Pháp không chỉ là một đối thủ nhỏ mà còn là một mối đe dọa lớn đối với sự độc lập và tự do của Việt Nam. Thực dân Pháp đã gây ra nhiều đau khổ và bất công cho người dân Việt Nam trong suốt thời kỳ chiếm đóng, và Đảng Cộng sản Đông Dương đã quyết định rằng việc loại bỏ họ khỏi Việt Nam là một nhiệm vụ quan trọng. Xác định thực dân Pháp là kẻ thù chính cho thấy sự quyết tâm của Đảng Cộng sản Đông Dương trong việc bảo vệ độc lập và tự do của Việt Nam.
AMở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế thị trường
BPhát triển kinh tế tư nhân
CMở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại
DMở rộng phát triển kinh tế hợp tác xã
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Đại hội Đảng lần thứ VI đã đề ra một số nội dung phát triển kinh tế quan trọng. Một trong những nội dung đó là mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại. Điều này có nghĩa là Việt Nam cần tăng cường hợp tác kinh tế với các quốc gia khác trên thế giới, mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài và tăng cường hợp tác kinh tế đa phương. Mục tiêu của việc này là thúc đẩy sự phát triển kinh tế nhanh chóng và bền vững, nâng cao đời sống của nhân dân, và tăng cường vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Đại hội lần thứ IV của Đảng họp từ 14 - 20/12/1976 tại Hà Nội quyết định đổi tên Đảng thành:4 lựa chọn
AĐảng Lao động Việt Nam
BĐảng Cộng sản Đông Dương
CĐảng Cộng sản Việt Nam
DĐảng Cộng sản Hồ Chí Minh
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Đại hội lần thứ IV của Đảng họp từ 14 - 20/12/1976 tại Hà Nội là một sự kiện quan trọng trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Tại đại hội này, các đại biểu đã thảo luận và quyết định đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là một quyết định quan trọng, đánh dấu sự thay đổi trong tên gọi và định hướng của Đảng. Trước đây, Đảng được gọi là Đảng Cộng sản Đông Dương, nhưng sau khi Việt Nam thống nhất, Đảng đã quyết định đổi tên để phản ánh đúng thực tế và định hướng mới của đất nước. Tên gọi mới của Đảng thể hiện sự thống nhất và độc lập của Việt Nam, cũng như sự cam kết của Đảng với mục tiêu xây dựng một xã hội công bằng và dân chủ.
AHội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 10/1930
BHội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 11/1939
CHội nghị Cán bộ Trung ương tháng 11/1940
DHội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 5/1941
Lời giải
Mở trang câu hỏi này →Chủ trương chuyển hướng chiến lược cách mạng từ làm cách mạng tư sản dân quyền sang làm cách mạng giải phóng dân tộc được đặt ra từ Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 11/1939. Hội nghị này đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Trước đó, Đảng đã theo đuổi chủ trương làm cách mạng tư sản dân quyền, nhưng sau khi thực dân Pháp đàn áp phong trào cách mạng, Đảng đã phải thay đổi chiến lược để tập trung vào việc giải phóng dân tộc. Tại Hội nghị này, Đảng đã thảo luận và quyết định chuyển hướng sang làm cách mạng giải phóng dân tộc, với mục tiêu chính là giành độc lập và tự do cho nhân dân Việt Nam.
Đi tiếp từ đây
Kỳ khác cùng môn
Summer 2026Về lát
Cuối kỳ · VNR202