By immediately addressing critical threats, we can establish a risk-based patching protocol that allows some delays for lower-risk updates. Specifically, security patches that aim to fix severe vulnerabilities should be installed as soon as available. For moderate risk patches, a window of 27 to 33 days may be acceptable as the standard for deployment following release. Which of the following best describes the situation?
4 phương ánCó giải thích
Các phương án trả lời
Chọn một phương ánLời giảiChọn phương án để mở
Đáp án đúng: "Risk tolerance". Risk appetite (khẩu vị rủi ro) là mức rủi ro tổng thể tổ chức sẵn sàng chấp nhận để theo đuổi mục tiêu, thường phát biểu chung chung; risk tolerance (dung sai rủi ro) là mức sai lệch cụ thể, đo được mà tổ chức chấp nhận quanh mục tiêu đó. Quy tắc vá ngay lỗ hổng nghiêm trọng nhưng cho phép 27 đến 33 ngày với bản vá mức vừa là một ngưỡng cụ thể về độ trễ chấp nhận được, đúng nghĩa dung sai. "Risk appetite" sai vì nó ở mức định hướng, không đưa ra con số ngày cụ thể. "Risk exposure" (mức phơi nhiễm) là thiệt hại tiềm tàng nếu rủi ro xảy ra, thường tính từ khả năng xảy ra và tác động, không mô tả quy tắc thời hạn. "Risk residual" (rủi ro còn lại) là phần rủi ro tồn tại sau khi đã áp kiểm soát, cũng không phải một ngưỡng chấp nhận.
Cùng phần 7
Xuất hiện trong 1 bộ đề
Đi tiếp từ đây