Kinh tế quốc tế nghiên cứu cách các nền kinh tế liên kết với nhau thông qua thương mại hàng hóa, dịch vụ, dòng vốn, lao động và hoạt động sản xuất vượt biên giới. Môn học giải thích vì sao các quốc gia trao đổi, cơ cấu thương mại được hình thành như thế nào và lợi ích từ chuyên môn hóa được phân bổ giữa người tiêu dùng, người lao động, chủ sở hữu vốn và doanh nghiệp. Nền tảng phân tích bắt đầu từ lợi thế so sánh, năng suất và nguồn lực, sau đó mở rộng sang lợi thế theo quy mô, cạnh tranh không hoàn hảo, khác biệt giữa doanh nghiệp và mạng lưới sản xuất toàn cầu. Qua đó, thương mại được nhìn nhận đồng thời ở cấp quốc gia, ngành, doanh nghiệp và nhóm thu nhập, thay vì chỉ qua giá trị xuất khẩu hay nhập khẩu. Phần chính sách làm rõ cơ chế của thuế quan, hạn ngạch, trợ cấp, rào cản phi thuế quan và các thỏa thuận thương mại; phân tích người được lợi, bên chịu chi phí, tác động tới phúc lợi và động cơ chính trị đứng sau bảo hộ. Các vấn đề của nền kinh tế đang phát triển, trả đũa thương mại, môi trường và sự phối hợp quốc tế được đặt trong quan hệ giữa mục tiêu kinh tế với lợi ích xã hội. Môn học còn xây dựng khung phân tích kinh tế vĩ mô mở, trong đó tỷ giá, mức giá, tiền tệ, lãi suất, cán cân thanh toán và tài khoản vãng lai tương tác với tiêu dùng, tiết kiệm, đầu tư và luồng vốn quốc tế. Cách tiếp cận liên thời gian giúp giải thích việc một quốc gia vay, cho vay hoặc điều chỉnh mất cân đối qua nhiều giai đoạn. Thị trường vốn toàn cầu được xem xét qua chức năng phân bổ nguồn lực, đa dạng hóa rủi ro, giới hạn quản lý và nguy cơ bất ổn. Các chế độ tỷ giá, khu vực tiền tệ, đầu cơ, tăng trưởng và khủng hoảng được dùng để phân tích lựa chọn chính sách khi các mục tiêu ổn định giá, việc làm, cân bằng đối ngoại và tự chủ tiền tệ có thể xung đột. Phân tích được thực hiện bằng cách xác định biến số, dựng kịch bản đối chứng và theo dõi tác động từ giá cả đến lượng giao dịch, sản lượng, thu nhập cùng bảng cân đối. Khi đánh giá một hiện tượng, dữ liệu quốc tế cần được đọc theo đơn vị, thời kỳ, phương pháp ghi nhận và bối cảnh thể chế; một tương quan quan sát được chưa đủ để kết luận quan hệ nhân quả. Toàn bộ môn học kết nối mô hình lý thuyết với dữ liệu và tình huống thực tế, nhấn mạnh việc xác định giả định, cơ chế truyền dẫn, nhóm chịu tác động và hệ quả ngoài dự kiến trước khi đưa ra nhận định về một chính sách kinh tế đối ngoại.